Thương mại Việt Nam-Ấn Độ đang bước vào giai đoạn phát triển rất tích cực
Theo nhận định của Tham tán Thương mại Việt Nam tại Ấn Độ, quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam-Ấn Độ đang đứng trước cơ hội mở ra một giai đoạn phát triển mới, với trọng tâm không chỉ là gia tăng kim ngạch mà còn nâng cao chất lượng hợp tác, kết nối đầu tư, công nghệ và chuỗi cung ứng.
Sau 10 năm kể từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2016, thương mại song phương đã có bước tăng trưởng đáng kể, đạt 16,46 tỷ USD năm 2025, tăng 10,5%. Đặc biệt, trong 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch hai chiều đạt khoảng 13,4 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ; xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đạt khoảng 8,05 tỷ USD, tăng 16,9%.
“Những con số trên cho thấy quan hệ thương mại Việt Nam-Ấn Độ đang có đà tăng trưởng tốt. Tuy nhiên, dư địa hợp tác còn rất lớn và mục tiêu quan trọng trong giai đoạn tới là phải biến tiềm năng thành những kết quả cụ thể hơn ở cấp độ doanh nghiệp và chuỗi giá trị”, Tham tán Thương mại Bùi Trung Thướng nhận định.
Theo Tham tán Bùi Trung Thướng, một điểm đáng chú ý của quan hệ thương mại song phương Việt Nam-Ấn Độ là sự chuyển dịch tích cực về cơ cấu hàng hóa.
(Ảnh: Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ)
Hơn 70% hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ hiện thuộc nhóm chế biến, chế tạo, trong đó có điện tử, máy móc, thiết bị, bên cạnh các nhóm hàng có thế mạnh truyền thống như nông sản, thủy sản, cao su, hồ tiêu, sắt thép và sản phẩm từ sắt thép.
Trong khi đó, Việt Nam nhập khẩu từ Ấn Độ nhiều nguyên phụ liệu, dược phẩm, hóa chất, sắt thép và các đầu vào phục vụ sản xuất.
“Điều này cho thấy hai nền kinh tế có tính bổ trợ tương đối rõ. Việt Nam có thể cung cấp các sản phẩm chế biến, linh kiện, hàng hóa và dịch vụ; trong khi Ấn Độ có thế mạnh về nguyên liệu, dược phẩm, hóa chất, công nghệ và các đầu vào sản xuất. Nếu kết nối tốt hơn, thương mại hai chiều sẽ không chỉ là quan hệ xuất-nhập khẩu mà có thể trở thành một phần của các chuỗi cung ứng liên kết giữa hai nước”, Tham tán Bùi Trung Thướng phân tích.
Động lực mới cho quan hệ kinh tế song phương cũng đang được tạo ra từ các kết quả đạt được trong chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Ấn Độ tháng 5/2026. Hai nước đã nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường và đặt mục tiêu đưa kim ngạch thương mại lên 25 tỷ USD vào năm 2030.
Tham tán Bùi Trung Thướng cho rằng, đây là mục tiêu có cơ sở, song để đạt được cần thay đổi cách tiếp cận. “Chúng ta không nên chỉ đặt vấn đề làm thế nào để xuất khẩu thêm vài tỷ USD, mà cần đặt câu hỏi doanh nghiệp hai nước có thể cùng đầu tư vào đâu, cùng sản xuất sản phẩm gì, cùng tham gia chuỗi cung ứng nào và ứng dụng công nghệ nào để tạo thêm giá trị”, Tham tán Bùi Trung Thướng chia sẻ.
Ấn Độ đang nổi lên như một trung tâm sản xuất, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Đánh giá về thị trường Ấn Độ, Tham tán Thương mại Bùi Trung Thướng cho rằng, lợi thế lớn nhất không chỉ nằm ở quy mô dân số hơn 1,47 tỷ người, mà còn ở tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự mở rộng của tầng lớp trung lưu và quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ.
Nhu cầu của thị trường Ấn Độ ngày càng đa dạng, từ thực phẩm chế biến, đồ uống, cà phê, thủy sản đến hàng tiêu dùng, điện tử và các sản phẩm có chất lượng, thương hiệu.
Sự quan tâm ngày càng lớn của doanh nghiệp Việt Nam đối với thị trường này thể hiện qua việc nhiều doanh nghiệp chủ động tham gia các hội chợ và triển lãm lớn như Triển lãm thực phẩm và đồ uống AAHAR, Indusfood và các sự kiện thương mại chuyên ngành khác.
Tuy nhiên, theo Tham tán Bùi Trung Thướng, các doanh nghiệp Việt Nam không nên chỉ nhìn Ấn Độ như một thị trường tiêu thụ. Bởi Ấn Độ đang nổi lên như một trung tâm sản xuất, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây chính là điểm mà doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm nhiều hơn trong giai đoạn tới.
Cùng với đó, Ấn Độ đang đẩy mạnh phát triển các ngành điện tử, ô-tô, dược phẩm, năng lượng, logistics và công nghệ cao. Điều này mở ra cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường thông qua việc cung cấp linh kiện, nguyên phụ liệu, dịch vụ, giải pháp công nghệ và các sản phẩm trung gian.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam có thế mạnh về sản xuất điện tử, phần cứng và năng lực chế tạo, trong khi Ấn Độ có lợi thế nổi bật về phần mềm, dịch vụ số, trí tuệ nhân tạo (AI), fintech và nguồn nhân lực công nghệ.
“Với những lợi thế trên, hai bên có thể bổ trợ cho nhau rất tốt. Việt Nam có thể kết hợp năng lực sản xuất và phần cứng với thế mạnh phần mềm, AI và dịch vụ số của Ấn Độ để hình thành những mô hình hợp tác có giá trị gia tăng cao hơn”, Tham tán Bùi Trung Thướng cho biết.
Mở thêm không gian hợp tác thông qua BRICS
Hiện BRICS đã mở rộng lên 11 thành viên, chiếm khoảng 40% GDP toàn cầu tính theo sức mua tương đương và khoảng một phần tư thương mại quốc tế. Theo số liệu của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD ), thương mại hàng hóa nội khối BRICS đã tăng hơn 13 lần kể từ năm 2003, đạt khoảng 1,17 nghìn tỷ USD vào năm 2024.
“Với việc Việt Nam trở thành nước đối tác BRICS từ tháng 6/2025 - nước đối tác thứ 10 của khối, chúng ta có điều kiện tiếp cận sâu hơn vào các mạng lưới chính sách, doanh nghiệp và chuyên gia của BRICS, thay vì chỉ nhìn nhận đây như một diễn đàn ngoại giao thuần túy”, Tham tán Bùi Trung Thướng nhấn mạnh.
Nhấn mạnh vai trò của Ấn Độ trong BRICS cũng như trong việc kết nối Việt Nam với BRICS, Tham tán Bùi Trung Thướng cho rằng, Ấn Độ đang giữ một vị trí khá hiếm có: vừa là một cực trong ASEAN-Indo-Pacific, vừa là thành viên sáng lập BRICS và Chủ tịch luân phiên của khối năm 2026, vừa là một tiếng nói quan trọng của Global South. Cùng với đó, quan hệ Việt Nam-Ấn Độ vừa được nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường nhân chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Ấn Độ đầu tháng 5/2026, với mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương lên 25 tỷ USD vào năm 2030.
Với những lợi thế đó, Tham tán Bùi Trung Thướng cho rằng, thay vì tiếp cận BRICS như một thị trường thống nhất, Việt Nam nên đi theo mô hình “hub-and-spoke”: Ấn Độ đóng vai trò trung tâm kết nối, các nước BRICS khác là những thị trường và mắt xích chuyên môn hóa, còn Việt Nam cung cấp hàng hóa, dịch vụ, công nghệ và năng lực logistics của ASEAN. Chủ đề mà Ấn Độ đặt ra cho năm Chủ tịch BRICS 2026 là “Xây dựng khả năng chống chịu, đổi mới sáng tạo, hợp tác và phát triển bền vững” là rất gần với nhu cầu phát triển hiện nay của Việt Nam, đặc biệt là các nội dung về chuỗi cung ứng, MSME (doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa), tài chính bền vững và đổi mới sáng tạo.
Để Việt Nam kết nối và mở rộng hợp tác với BRICS, Tham tán Bùi Trung Thướng đề xuất cách tiếp cận theo bốn trụ cột. Trước hết, là mở rộng thương mại và tiếp cận thị trường, tập trung vào các nhóm hàng Việt Nam có lợi thế như nông sản-thực phẩm, thủy sản, cà-phê, hạt điều, hồ tiêu, điện tử, dệt may, da giày, đồng thời khai thác nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, hóa chất, dược phẩm, máy móc và năng lượng từ BRICS.
Tiếp đến là thu hút và kết nối đầu tư, cả chiều thu hút vốn từ các tập đoàn BRICS vào Việt Nam trong các lĩnh vực công nghệ, dược phẩm, năng lượng, chế biến thực phẩm, lẫn chiều hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra các thị trường BRICS theo mô hình liên doanh, văn phòng thương mại hay trung tâm phân phối.
Thứ ba là tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và logistics, tận dụng vị thế của Việt Nam như một trung tâm sản xuất tích hợp với ASEAN trong chuỗi Trung Quốc-Ấn Độ-ASEAN, cũng như hình thành các tuyến kết nối Việt Nam-Ấn Độ-Trung Đông-châu Phi và Việt Nam-Ấn Độ- Nga/Eurasia.
Cuối cùng là hợp tác khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đây là không gian hợp tác mà chúng tôi cho là có khả năng tạo giá trị gia tăng cao nhất.
“Tôi cho rằng cơ hội lớn nhất không nằm ở việc chờ đợi BRICS trở thành một khu vực mậu dịch tự do, mà nằm ở việc chủ động tham gia ngay vào quá trình hội nhập thực chất đang diễn ra trong khối khi thương mại nội khối tăng nhanh, chuỗi cung ứng được tái cấu trúc và nhu cầu về vốn, công nghệ ngày càng lớn. Với vị thế nước đối tác BRICS và quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường với Ấn Độ, Việt Nam đang có một thời điểm thuận lợi hiếm có để biến năm Chủ tịch BRICS 2026 của Ấn Độ thành bệ phóng cho xúc tiến thương mại và đầu tư, lấy Ấn Độ làm trung tâm kết nối, lấy doanh nghiệp làm chủ thể và lấy dữ liệu thương mại làm cơ sở lựa chọn ngành ưu tiên”, Tham tán Bùi Trung Thướng cho biết.
Khoa học-công nghệ phải trở thành trụ cột mới
Bên cạnh thương mại và đầu tư, Tham tán Bùi Trung Thướng cho rằng khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo cần trở thành một trụ cột quan trọng hơn trong quan hệ Việt Nam-Ấn Độ.
Ấn Độ đang phát triển mạnh các lĩnh vực công nghệ chiến lược như bán dẫn, AI, siêu máy tính, máy tính lượng tử và công nghệ số. Việt Nam cũng đang dành ưu tiên cao cho chuyển đổi số, AI, bán dẫn và đổi mới sáng tạo.
Tại buổi làm việc với cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ chiều ngày 13/9, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, ngoại giao kinh tế và ngoại giao công nghệ là những ưu tiên hàng đầu, đồng thời định hướng thu hút đầu tư vào hydrogen, thép xanh và hạ tầng hàng không, ưu tiên các doanh nghiệp có năng lực, công nghệ lõi và khả năng chuyển giao.
Tham tán Bùi Trung Thướng cho rằng, định hướng này phù hợp với xu thế phát triển của quan hệ Việt Nam-Ấn Độ. Theo đó, chúng ta cần hướng tới những dự án có hàm lượng công nghệ cao, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ. Đây sẽ là cách để quan hệ kinh tế hai nước phát triển theo chiều sâu thay vì chỉ dựa vào tăng trưởng thương mại.
Đại diện Văn phòng Khoa học công nghệ Việt Nam tại Ấn Độ cũng kiến nghị lựa chọn một số lĩnh vực công nghệ chiến lược để triển khai các dự án hợp tác quy mô lớn, bởi mức độ hợp tác hiện nay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng
Biến mục tiêu 25 tỷ USD thành những dự án cụ thể
Để hiện thực hóa mục tiêu thương mại 25 tỷ USD vào năm 2030, Tham tán Thương mại Bùi Trung Thướng cho rằng, cần chuyển mạnh từ xúc tiến thương mại đơn thuần sang kết nối doanh nghiệp và chuỗi giá trị.
Theo Tham tán Bùi Trung Thướng, trước hết cần nghiên cứu thành lập Hội đồng Kinh doanh Việt Nam-Ấn Độ, với sự tham gia của các Bộ, ngành, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), các phòng thương mại và công nghiệp lớn của Ấn Độ cùng cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
Song song với đó, có thể nghiên cứu xây dựng các Trung tâm Xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch tại một số bang lớn của Ấn Độ, trước mắt thí điểm tại khu vực phía nam - nơi tập trung nhiều trung tâm công nghiệp, công nghệ và thương mại lớn.
“Thị trường Ấn Độ rất rộng và có sự khác biệt đáng kể giữa các bang. Nếu chỉ xúc tiến từ New Delhi thì khó có thể khai thác hết tiềm năng. Chúng ta cần hiện diện gần hơn với doanh nghiệp và chính quyền địa phương, đồng thời nghiên cứu sử dụng nhân sự bản địa để tăng khả năng tiếp cận thị trường”, Tham tán Bùi Trung Thướng cho biết.
Một hướng đi khác là khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sang Ấn Độ, hình thành một số doanh nghiệp “cánh chim đầu đàn” có thương hiệu, công nghệ và năng lực tài chính đủ mạnh để kéo theo các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Cùng với đó cần tiếp tục cải thiện kết nối logistics, hàng hải, hàng không và kết nối số giữa hai nước. “Nếu muốn thương mại tăng nhanh thì kết nối phải đi trước một bước. Mở cửa thị trường cần được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại, đồng thời tăng cường kết nối hạ tầng để giảm chi phí giao thương và mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp hai nước”, Tham tán Bùi Trung Thướng cho biết.
Bên cạnh việc đưa ra những cơ hội nhằm hiện thực hóa mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương Việt Nam-Ấn Độ trong thời gian tới, Tham tán Bùi Trung Thướng cũng lưu ý, Ấn Độ là thị trường lớn nhưng không phải thị trường dễ tiếp cận. Các tiêu chuẩn và quy định như BIS, an toàn thực phẩm, kiểm dịch và các yêu cầu chuyên ngành có thể tạo ra chi phí tuân thủ đáng kể.
Bên cạnh đó, thị trường phân mảnh theo từng bang, mức độ cạnh tranh cao và những thách thức về logistics, thanh toán, thông tin thị trường và thẩm tra đối tác cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng.
“Doanh nghiệp Việt Nam không nên tiếp cận Ấn Độ theo cách ngắn hạn, thấy thị trường lớn thì đưa hàng sang bán. Cần nghiên cứu kỹ từng bang, từng phân khúc, từng hệ thống phân phối và xây dựng quan hệ với đối tác trong thời gian đủ dài”, Tham tán Bùi Trung Thướng khuyến nghị.
Đối với không gian BRICS, doanh nghiệp Việt Nam cũng cần tính đến những khác biệt về thể chế, tiêu chuẩn, khoảng cách địa lý, phương thức thanh toán và mức độ cạnh tranh giữa các thị trường.
Lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy Ấn Độ làm cửa ngõ
Tại buổi làm việc với cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ ngày 13/9, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho rằng quy mô thương mại Việt Nam-Ấn Độ vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và cần phấn đấu cao hơn mục tiêu 25 tỷ USD; đồng thời yêu cầu cán bộ địa bàn chủ động nắm bắt nhu cầu, cập nhật thông tin và kết nối hiệu quả các ngành hàng phù hợp với thị trường Ấn Độ.
Nhấn mạnh đây là định hướng quan trọng đối với công tác xúc tiến thương mại trong thời gian tới, Tham tán Bùi Trung Thướng cho biết, muốn đi xa hơn trong quan hệ kinh tế Việt Nam-Ấn Độ, chúng ta phải lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy nhu cầu thực tế của thị trường làm cơ sở, lấy khoa học-công nghệ và chuỗi giá trị làm động lực, đồng thời tận dụng tốt vai trò của Ấn Độ trong BRICS.
Theo đó, mục tiêu 25 tỷ USD vào năm 2030 không nên chỉ được nhìn nhận là một con số về kim ngạch. Quan trọng hơn, đây có thể là động lực để hai nước xây dựng một hệ sinh thái hợp tác kinh tế sâu rộng hơn, trong đó thương mại, đầu tư, công nghệ, logistics và đổi mới sáng tạo hỗ trợ lẫn nhau.
“Nếu làm tốt, Ấn Độ không chỉ là một thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam mà còn có thể trở thành một trung tâm kết nối giúp doanh nghiệp Việt Nam mở rộng sang các không gian thị trường mới, đồng thời đưa Việt Nam trở thành một mắt xích ngày càng quan trọng trong các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu”, Tham tán Bùi Trung Thướng nhận định.
Khánh Lan