Bỏ qua điều hướng
•

Mở rộng hợp tác công nghệ Việt Nam-Nhật Bản theo hướng đồng sáng tạo

Mở rộng hợp tác công nghệ Việt Nam-Nhật Bản theo hướng đồng sáng tạo
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Từ nền tảng hợp tác phần mềm hơn hai thập kỷ, Việt Nam và Nhật Bản đang mở rộng sang nghiên cứu, phát triển công nghệ chuyên sâu và cùng đưa sản phẩm ra thị trường. Tại Diễn đàn công nghệ số Việt Nam-Nhật Bản 2026 ngày 2/10 tại Tokyo, hai bên nhấn mạnh chuyển từ cung ứng dịch vụ sang cùng giải quyết...

Phát biểu tại Diễn đàn với chủ đề “Cộng hưởng số Việt-Nhật: Đồng sáng tạo tương lai với trí tuệ nhân tạo và công nghệ chuyên sâu”, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho biết hợp tác công nghệ Việt Nam-Nhật Bản đã có nền tảng được xây dựng qua nhiều năm. Theo số liệu được nêu tại Diễn đàn, hơn 300 doanh nghiệp Việt Nam đang cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thị trường Nhật Bản, trong đó hơn 100 doanh nghiệp có văn phòng tại nước này. Doanh nghiệp Việt Nam chiếm khoảng 6-7% thị phần ủy thác phát triển phần mềm tại Nhật Bản.

ong-vu-hai-quan-bo-truong-bo-khoa-hoc-va-cong-nghe-viet-nam.jpg
Ông Vũ Hải Quân, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ phát biểu tại Diễn đàn công nghệ số Việt Nam-Nhật Bản 2026. (Ảnh: Ban tổ chức)

Những kết quả trên cho thấy năng lực của doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đã được khẳng định tại thị trường Nhật Bản. Tuy nhiên, theo định hướng được đặt ra tại Diễn đàn, dư địa hợp tác trong giai đoạn tới không chỉ nằm ở cung cấp dịch vụ phần mềm hay nhân lực mà cần mở rộng sang nghiên cứu, phát triển và cùng tạo ra sản phẩm.

Ông Nguyễn Văn Khoa, Chủ tịch Hiệp hội phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA) cho rằng hợp tác Việt Nam-Nhật Bản đang đứng trước bước chuyển từ mô hình gia công sang đồng sáng tạo. Doanh nghiệp hai nước có thể tham gia ngay từ khâu phát hiện vấn đề, thiết kế kiến trúc, nghiên cứu công nghệ đến phát triển và thương mại hóa sản phẩm.

Theo ông Khoa, Nhật Bản có thế mạnh về cơ khí chính xác, quản trị, chuỗi cung ứng và thị trường toàn cầu, trong khi Việt Nam có lợi thế về nguồn nhân lực công nghệ, sự linh hoạt và khả năng phát triển các giải pháp số. Kết hợp những thế mạnh này có thể tạo ra những sản phẩm có giá trị cao hơn và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế.

Bốn hướng hợp tác trọng tâm

Từ nội dung Diễn đàn, Bộ trưởng Vũ Hải Quân đề nghị doanh nghiệp hai nước tập trung vào bốn hướng hợp tác.

Trước hết là hiện đại hóa hệ thống lõi và nâng cao năng suất. Các doanh nghiệp Nhật Bản có thể chia sẻ những khó khăn trong nâng cấp hệ thống công nghệ cũ, kết nối dữ liệu và tích hợp công nghệ mới. Doanh nghiệp Việt Nam cùng đối tác khảo sát quy trình, xác định khâu cần cải thiện và xây dựng lộ trình phù hợp, bảo đảm hoạt động sản xuất, kinh doanh được duy trì ổn định.

Đối với AI tạo sinh và các quy trình có tác nhân AI tham gia, Bộ trưởng lưu ý cần đánh giá bằng hiệu quả thực tế, như thời gian được tiết kiệm, chất lượng công việc và mức độ tin cậy khi vận hành. Việc sử dụng dữ liệu và trách nhiệm kiểm soát của con người cần được xác định ngay từ khi thiết kế giải pháp.

Đây cũng là hướng hợp tác có ý nghĩa trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đang phải giải quyết bài toán hiện đại hóa hệ thống công nghệ cũ, đồng thời tìm cách đưa AI vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thứ hai là cùng nghiên cứu và phát triển công nghệ chuyên sâu, AI, robot, thiết bị bay không người lái và bán dẫn được xác định là những lĩnh vực có tiềm năng mở rộng hợp tác.

Bộ trưởng đề nghị doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học hai nước lựa chọn những bài toán cụ thể để cùng nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm, trước khi mở rộng. Các ứng dụng có thể bắt đầu từ sản xuất thông minh, kiểm tra thiết bị, giám sát hạ tầng hoặc nông nghiệp.

Trong lĩnh vực bán dẫn, hai bên có thể thúc đẩy hợp tác từ thiết kế vi mạch, sản xuất thử đến kiểm thử theo nhu cầu ứng dụng. Mỗi dự án cần có mục tiêu, đối tác và nguồn lực rõ ràng, có bước thử nghiệm chứng minh tính khả thi trước khi mở rộng. Các bên cũng cần thống nhất về quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế chia sẻ lợi ích.

Thứ ba là phát triển kỹ sư AI gắn với nhu cầu doanh nghiệp. Khi các công cụ lập trình thay đổi nhanh, yêu cầu đối với kỹ sư cũng thay đổi. Không chỉ cần năng lực lập trình, kỹ sư cần khả năng phân tích vấn đề, thiết kế hệ thống, đánh giá kết quả và hiểu lĩnh vực ứng dụng.

Bộ trưởng đề nghị doanh nghiệp hai nước phối hợp các trường đại học, viện nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo gắn với dự án thực tế. Chuyên gia Việt Nam và Nhật Bản có thể cùng hướng dẫn kỹ sư trẻ, chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu và tiêu chuẩn chất lượng.

Thứ tư là đưa sản phẩm đồng phát triển vào thị trường và chuỗi giá trị. Theo Bộ trưởng, các hoạt động trình diễn công nghệ và kết nối doanh nghiệp cần giúp đối tác đánh giá rõ sản phẩm giải quyết vấn đề gì, đã được kiểm chứng đến đâu và cần hợp tác ở khâu nào.

Những sản phẩm đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường Nhật Bản sẽ có thêm cơ sở để tiếp tục hoàn thiện và tiếp cận các thị trường khác. Theo đó, chất lượng, tính ổn định và trách nhiệm với khách hàng là nền tảng để xây dựng uy tín hợp tác.

4-ong-fuseda-hideo.jpg
Ông FUSEDA Hideo, Thứ trưởng Phụ trách các vấn đề quốc tế, Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản chia sẻ tại Diễn đàn. (Ảnh: Ban tổ chức)

Chuyển cam kết thành dự án cụ thể

Một điểm đáng chú ý tại Diễn đàn là yêu cầu chuyển các cam kết thành những dự án có thể triển khai và đo lường.

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết chương trình được thiết kế nhằm tạo không gian đối thoại trực tiếp giữa những người làm công nghệ và những người sử dụng công nghệ. Bên cạnh các phiên chuyên môn, khu trình diễn công nghệ và các cuộc gặp doanh nghiệp một đối một được tổ chức song song, tạo điều kiện để các bên trực tiếp giới thiệu giải pháp, trao đổi nhu cầu và tìm kiếm đối tác.

Từ nền tảng hợp tác được hình thành trong hơn 20 năm, quan hệ công nghệ Việt Nam-Nhật Bản đang có thêm dư địa để bước sang giai đoạn mới. Đồng sáng tạo là thay đổi phương thức hợp tác và mở ra khả năng để doanh nghiệp hai nước cùng xác định bài toán, cùng phát triển công nghệ, tạo ra sản phẩm và từng bước đưa sản phẩm đó tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Ánh Hồng

Tại Diễn đàn công nghệ số Việt Nam-Nhật Bản 2026 diễn ra ngày 2/10 tại Tokyo, hai nước đã khẳng định bước chuyển chiến lược từ cung ứng dịch vụ phần mềm sang hợp tác đồng sáng tạo công nghệ. Sau hơn hai thập kỷ xây dựng nền tảng, hiện có hơn 300 doanh nghiệp Việt Nam đang cung cấp dịch vụ tại Nhật Bản và chiếm khoảng 6-7% thị phần ủy thác phát triển phần mềm. Sự hiện diện của hơn 100 văn phòng doanh nghiệp Việt tại quốc gia này là cơ sở vững chắc để hai bên mở rộng sang các dự án nghiên cứu chuyên sâu. Đánh giá về xu hướng hợp tác mới, Chủ tịch Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA) Nguyễn Văn Khoa nhận định hai bên đang tiến tới mô hình cùng thiết kế, phát triển và thương mại hóa sản phẩm. Nhật Bản sở hữu thế mạnh vượt trội về cơ khí chính xác, quản trị và mạng lưới thị trường toàn cầu, trong khi Việt Nam mang lại nguồn nhân lực công nghệ linh hoạt cùng khả năng triển khai giải pháp số nhanh chóng. Sự cộng hưởng giữa hai nền kinh tế hứa hẹn tạo ra những sản phẩm công nghệ có giá trị gia tăng cao hơn trên thị trường quốc tế. Để hiện thực hóa định hướng này, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đề xuất bốn hướng hợp tác trọng tâm giữa cộng đồng doanh nghiệp và viện nghiên cứu hai nước. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là hiện đại hóa hệ thống lõi, nâng cao năng suất vận hành và tích hợp trí tuệ nhân tạo tạo sinh vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc ứng dụng tác nhân AI đòi hỏi hai bên phải đo lường bằng hiệu quả thực tế và bảo đảm trách nhiệm kiểm soát của con người ngay từ khâu thiết kế. Song song đó, hai bên chú trọng đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển các lĩnh vực công nghệ chuyên sâu như AI, robot, thiết bị bay không người lái và bán dẫn. Sự chủ động phối hợp giữa các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học sẽ giúp giải quyết các bài toán cụ thể, tạo động lực mới cho hợp tác công nghệ Việt-Nhật.