Bỏ qua điều hướng

Một đồng vốn FDI có thể quay được bao nhiêu vòng?

Một đồng vốn FDI có thể quay được bao nhiêu vòng?
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Có những "nút thắt" ít ngờ tới khiến chỉ có khoảng 10 doanh nghiệp FDI đang niêm yết và đăng ký giao dịch tại Việt Nam.

Một đồng vốn FDI có thể quay được bao nhiêu vòng? - Ảnh 1.

Công nhân làm việc tại Công ty Vexos (100% vốn nước ngoài) trong Khu chế xuất Tân Thuận (TP.HCM) - Ảnh: QUANG ĐỊNH

Trong tổng số gần 1.600 doanh nghiệp đang niêm yết và đăng ký giao dịch tại Việt Nam, chỉ có khoảng 10 doanh nghiệp FDI

Tính đến cuối năm 2025, nhóm này có tổng vốn điều lệ khoảng 12.629 tỉ đồng, chỉ tương đương 0,15% tổng vốn điều lệ toàn thị trường - một tỉ lệ quá nhỏ so với đóng góp của khu vực này vào GDP, xuất khẩu và việc làm, theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). 

"Nút thắt" ít ngờ tới

Kể từ khi thị trường chứng khoán được thành lập, chỉ có 11 doanh nghiệp FDI từng niêm yết hoặc đăng ký giao dịch và hiện còn 10 doanh nghiệp.

Siam Brothers Việt Nam là doanh nghiệp FDI gần nhất gia nhập sàn chứng khoán, với đợt IPO thực hiện năm 2016 và cổ phiếu SBV chính thức niêm yết trên HoSE vào tháng 5-2017.

Suốt gần một thập kỷ sau đó, thị trường không đón thêm "tân binh" nào, dù có một số cái tên như Seoul Metal Việt Nam, Ngũ Kim Fortress Việt Nam hay AEON từng "đánh tiếng" muốn niêm yết.

Nghịch lý nằm ở chỗ nhiều doanh nghiệp FDI không thiếu năng lực.

Chính đại diện UBCKNN từng cho biết nhiều doanh nghiệp FDI có năng lực tài chính tốt, hoạt động hiệu quả, quản trị minh bạch hoàn toàn có thể IPO và niêm yết như doanh nghiệp trong nước nếu đáp ứng đủ điều kiện.

Cái khó đầu tiên nằm ngay trong hồ sơ gốc của từng dự án FDI. Nhiều doanh nghiệp khi được cấp phép đầu tư đã cam kết với chính quyền địa phương những nghĩa vụ đi kèm ưu đãi: xây dựng hạ tầng, duy trì hoạt động dự án trong một thời hạn nhất định, không chuyển nhượng vốn trước một mốc thời gian nào đó.

Khi doanh nghiệp muốn niêm yết - mở đường cho cổ đông sáng lập thoái vốn một phần - những cam kết này lập tức trở thành nút thắt cần được rà soát và phải được xác nhận là đã hoàn thành.

Với dự án PPP, dự án trúng thầu hoặc chịu sự điều chỉnh của các cam kết quốc tế, danh sách điều kiện còn dài hơn. Tuy nhiên những doanh nghiệp hết thời hạn cam kết cũng rất khó IPO vì những lý do khác nhau.

Vấn đề tiếp đến nằm ở phần giao nhau giữa pháp luật đầu tư, doanh nghiệp và chứng khoán. 

Trước khi đi vào quy trình IPO và niêm yết, doanh nghiệp FDI có thể phải rà soát và xử lý hàng loạt vấn đề phát sinh từ lịch sử đầu tư và cơ cấu pháp lý của mình, như điều kiện và cam kết của dự án, thay đổi vốn và cơ cấu cổ đông, nghĩa vụ thuế trong giai đoạn hưởng ưu đãi hoặc các thủ tục đầu tư liên quan. 

Những vấn đề này thường phải được xử lý theo từng trường hợp, thay vì theo một quy trình chuẩn áp dụng chung cho doanh nghiệp FDI.

Ở phần thủ tục chứng khoán, Nghị định 245/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ tháng 9-2025, đã xóa bỏ quyền tự giới hạn room ngoại, rút ngắn thời gian đưa cổ phiếu vào giao dịch sau khi được chấp thuận niêm yết từ 90 ngày xuống còn 30 ngày và cho phép xử lý hồ sơ IPO và niêm yết theo hướng đồng thời - một cải thiện đáng kể, nhưng chuẩn mực kế toán, cơ cấu sở hữu qua nhiều tầng nấc và nghĩa vụ thuế phát sinh từ giai đoạn ưu đãi đầu tư vẫn phải xử lý theo từng trường hợp, thay vì theo một quy trình chuẩn.

Cái khó thứ ba, ít được nói tới nhưng có lẽ tốn kém nhất, là thiếu một cơ chế phối hợp đủ rõ cho các vấn đề đặc thù của doanh nghiệp FDI nằm ngoài quy trình chứng khoán, nơi pháp luật đầu tư, doanh nghiệp, thuế và ngoại hối có thể cùng giao nhau.

Nghị định 245 đã giúp tích hợp đáng kể việc xử lý hồ sơ IPO và niêm yết trong phạm vi thị trường chứng khoán. 

Tuy nhiên, doanh nghiệp FDI vẫn có thể phải làm việc với nhiều cơ quan khác để xử lý các vấn đề về đầu tư, cơ cấu vốn, thuế hoặc ngoại hối; và một vướng mắc được tháo gỡ cho doanh nghiệp này chưa mặc nhiên trở thành cách xử lý thống nhất cho doanh nghiệp sau.

Với vốn đầu tư, một quy trình 60 ngày nhưng kết quả dự đoán được vẫn tốt hơn quy trình 20 ngày mà không ai chắc cơ quan quản lý sẽ diễn giải ra sao. Chi phí thực sự không nằm ở số ngày xử lý hồ sơ, mà ở sự bất định.

Điều đáng chú ý những vấn đề nêu trên đang được nhận diện đúng lúc thị trường vốn Việt Nam bước sang trang mới.

FTSE Russell công bố nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ cận biên lên mới nổi thứ cấp, có hiệu lực từ 21-9-2026 và hoàn tất phân bổ theo lộ trình bốn giai đoạn đến tháng 9-2027, kết quả của nhiều năm cải cách hạ tầng giao dịch và minh bạch thông tin.

Thị trường IPO đã bắt đầu phục hồi rõ nét từ nửa cuối năm 2025, với một số thương vụ lớn được thực hiện và nhiều doanh nghiệp khác chuẩn bị kế hoạch huy động vốn.

Tuy nhiên, diễn biến năm 2026 đến nay cho thấy sự phục hồi này vẫn mang tính chọn lọc và chưa trở thành một "làn sóng IPO" trên diện rộng như thị trường từng kỳ vọng.

Tư duy chính sách về FDI cũng đang chuyển động. Nghị quyết 10-NQ/TW ban hành tháng 6-2026 đánh dấu một bước chuyển sâu hơn: từ thu hút nhiều vốn sang thu hút đúng dòng vốn, tức dòng vốn có khả năng tạo năng suất và lan tỏa cho kinh tế trong nước.

Một đồng vốn FDI có thể quay được bao nhiêu vòng? - Ảnh 2.

Có nhiều doanh nghiệp FDI "đánh tiếng" muốn niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt - Ảnh minh họa: HỮU HẠNH

Đưa FDI lên sàn, mở thêm đường vốn cho tăng trưởng

Việc mở đường cho doanh nghiệp FDI đủ chất lượng niêm yết không nên được tiếp tục nhìn như một hạng mục kỹ thuật của thị trường chứng khoán. Nó nên được coi là một mắt xích của chính sách tăng trưởng. 

Một doanh nghiệp FDI "trưởng thành" khi niêm yết tạo ra đồng thời ba dòng vốn: doanh nghiệp có thêm vốn chủ sở hữu để mở rộng sản xuất; nhà đầu tư sáng lập thu hồi một phần vốn để tái đầu tư vào dự án mới ngay tại Việt Nam; và thị trường chứng khoán có thêm một doanh nghiệp chất lượng, phản ánh đúng hơn bức tranh công nghiệp hóa mà nền kinh tế thực đã đi trước thị trường vốn khá xa.

Từ những vướng mắc đã nhận diện, hướng xử lý không nằm ở việc nới lỏng tiêu chuẩn niêm yết cho doanh nghiệp FDI, mà ở việc làm cho con đường đến tiêu chuẩn đó rõ ràng và dự đoán được. 

Một số hướng đang được thảo luận giữa cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp FDI: xây dựng lộ trình niêm yết riêng, chuẩn hóa thành quy trình chung sau một số thương vụ thí điểm thay vì để mỗi doanh nghiệp tự đàm phán lại từ đầu; thiết lập cơ chế tham vấn trước với thời hạn trả lời rõ ràng; và nghiên cứu công cụ như chứng chỉ quỹ để nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận cổ phiếu Việt Nam mà không vướng giới hạn sở hữu. 

Điều cần rút ngắn là sự bất định về thời gian hoàn thành, thời gian xử lý hồ sơ, không phải bộ tiêu chuẩn về kiểm toán, quản trị công ty hay bảo vệ cổ đông - những tiêu chuẩn mà một doanh nghiệp FDI đủ lớn hoàn toàn có khả năng đáp ứng, thậm chí tốt hơn phần lớn doanh nghiệp niêm yết hiện nay.

Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số cho giai đoạn 2026-2030, với nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội tương đương 35-40% GDP mỗi năm. 

Những ngành Việt Nam muốn tiến tới - bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, năng lượng, sản xuất công nghệ cao - đều đòi hỏi vốn chủ sở hữu lớn, chấp nhận rủi ro dài hạn, thứ mà hệ thống ngân hàng không thể một mình gánh vác nếu không muốn nền kinh tế sớm chạm giới hạn đòn bẩy.

Câu hỏi quan trọng của giai đoạn tới, vì vậy, có lẽ không chỉ là thu hút thêm bao nhiêu tỉ USD vốn mới, mà là một tỉ USD đã vào Việt Nam có thể tạo ra bao nhiêu tỉ USD đầu tư tiếp theo. 

Một đồng vốn FDI có thể quay được bao nhiêu vòng? - Ảnh 1.Thu hút FDI: Phải kéo doanh nghiệp Việt đi cùng

Thu hút FDI không chỉ nhằm tăng vốn đầu tư, mà phải tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Tính đến cuối năm 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam ghi nhận gần 1.600 doanh nghiệp đang niêm yết và đăng ký giao dịch, nhưng khối doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chỉ đóng góp khiêm tốn với khoảng 10 đại diện. Theo dữ liệu từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, tổng vốn điều lệ của nhóm này đạt khoảng 12.629 tỉ đồng, chỉ chiếm vỏn vẹn 0,15% toàn thị trường. Con số này tạo nên một khoảng cách lớn so với quy mô đóng góp thực tế của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vào GDP, xuất khẩu và giải quyết việc làm tại Việt Nam. Kể từ khi Siam Brothers Việt Nam thực hiện đợt IPO năm 2016 và chính thức niêm yết cổ phiếu SBV trên sàn HoSE vào tháng 5-2017, thị trường đã trải qua gần một thập kỷ mà không đón nhận thêm bất kỳ tân binh FDI nào. Dù nhiều thương hiệu lớn như Seoul Metal Việt Nam, Ngũ Kim Fortress Việt Nam hay AEON từng bày tỏ ý định lên sàn, các rào cản pháp lý và cam kết ban đầu vẫn là lực cản lớn. Rất nhiều doanh nghiệp FDI vướng phải các quy định ràng buộc về hạ tầng, nghĩa vụ thuế ưu đãi cũng như thời hạn cam kết duy trì dự án từ hồ sơ cấp phép đầu tư ban đầu. Bên cạnh đó, sự chồng chéo giữa pháp luật đầu tư, doanh nghiệp và chứng khoán khiến quy trình rà soát lịch sử thay đổi vốn hay cơ cấu cổ đông qua nhiều tầng nấc trở nên phức tạp. Mặc dù Nghị định 245/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ tháng 9-2025 đã mang lại những cải thiện đáng kể khi xóa bỏ quyền tự giới hạn room ngoại và rút ngắn thời gian giao dịch xuống còn 30 ngày, các nút thắt kỹ thuật vẫn cần quy trình xử lý thấu đáo. Việc tháo gỡ triệt để các vướng mắc này được kỳ vọng sẽ giúp thị trường vốn Việt Nam khơi thông nguồn lực và phát huy tối đa hiệu quả của dòng vốn FDI.