Câu nói “một mâm cơm, ba Bộ quản lý” đã cũ đến mức thành câu cửa miệng mỗi khi bàn về an toàn thực phẩm. Thịt, cá, rau thuộc ngành nông nghiệp. Bia, rượu, nước giải khát thuộc ngành công thương. Nước uống đóng chai, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, phụ gia lại thuộc ngành y tế.
Theo dự thảo Đề án hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm năm 2026, Bộ Y tế hiện quản lý 6 ngành hàng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý 19 ngành hàng, Bộ Công Thương quản lý 8 ngành hàng, mỗi Bộ có hệ thống riêng từ Trung ương xuống địa phương.
Theo tôi, cách chia ấy có cơ sở. Mỗi nhóm sản phẩm có quy trình sản xuất và tiêu chuẩn kỹ thuật riêng. Nhưng rủi ro đối với sức khỏe con người không vận hành theo bảng phân loại hành chính. Một suất ăn bán trú hay một bếp ăn công nghiệp dùng nguyên liệu của cả ba ngành. Một vụ ngộ độc cũng không tự “khai báo” nó thuộc thẩm quyền Bộ nào. Cơ quan chức năng quản lý theo nhóm sản phẩm, còn nguy cơ đi theo chuỗi, từ sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu thông đến tiêu dùng.

Học sinh Trường Tiểu học Tân Quy, TPHCM, sử dụng suất ăn bán trú vào trưa 28/1 (Ảnh minh họa: Hoài Nam).
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi (dự thảo Luật), được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến chiều 24/9 và dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 10, đề xuất thống nhất một đầu mối quản lý với Bộ Y tế giữ vai trò chính. Chính Bộ Y tế cũng thừa nhận, sau 15 năm thi hành, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 bộc lộ những điểm nghẽn như phân công còn phân mảnh, quản lý theo rủi ro chưa đầy đủ, dữ liệu số chưa liên thông và quy định kiểm nghiệm chưa đồng bộ.
Tôi ủng hộ hướng đi này. Nhưng tôi cho rằng nó cần được nhìn trước hết như một cuộc cải cách về trách nhiệm công quyền, chứ không đơn thuần là vẽ lại sơ đồ tổ chức. Bởi mâu thuẫn nằm ngay trong luật hiện hành. Điều 61 quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ về lĩnh vực này. Ngay sau đó, các Điều 62, 63 và 64 lại chia phạm vi quản lý cho ba Bộ theo nhóm sản phẩm. Một cơ quan được giao chịu trách nhiệm về toàn bộ lĩnh vực, trong khi phần lớn công cụ quản lý, từ cơ sở sản xuất, kênh lưu thông, lực lượng chuyên môn đến dữ liệu, lại nằm trong tay những Bộ khác.
Trong khoa học quản trị, muốn một cơ quan chịu trách nhiệm cuối cùng thì cơ quan ấy phải có đủ thẩm quyền, thông tin và công cụ. Khi quyền nằm ở nhiều nơi mà trách nhiệm đặt vào một nơi, “chịu trách nhiệm” rất dễ trở thành trách nhiệm trên nguyên tắc, khó đo đếm và càng khó truy cứu.
Hãy hình dung một vụ ngộ độc tại bếp ăn tập thể. Việc phải làm ngay là khoanh vùng người đã ăn, lấy mẫu, truy xuất nguyên liệu, xác định nhà cung cấp, kiểm tra khâu vận chuyển và bảo quản, chặn những lô hàng còn đang lưu thông. Trong chuỗi ấy có thể có thịt, rau, gia vị, nước uống, phụ gia của nhiều cơ sở khác nhau. Khi dữ liệu và thẩm quyền bị chia theo ngành hàng, một sự cố sức khỏe cộng đồng lập tức biến thành bài toán phối hợp liên ngành.
Phối hợp là cần thiết, nhưng trong quy trình phối hợp cần làm rõ: Ai quyết định cuối cùng? Cơ quan phát hiện nguy cơ có quyền can thiệp đến đâu nếu sản phẩm thuộc phạm vi của ngành khác? Ai được quyền yêu cầu cung cấp thông tin ngay lập tức? Và nếu một nguy cơ tồn tại nhiều năm mà không ai phát hiện, trách nhiệm thuộc về ai?
Dự thảo Luật đề xuất thống nhất một đầu mối quản lý từ Trung ương đến địa phương, trong đó Bộ Y tế chịu trách nhiệm chính. Cách tiếp cận này đúng hướng, song cần làm rõ “đầu mối” phải đồng thời là đầu mối của quyền điều phối, của dữ liệu và của trách nhiệm giải trình.
Về quyền điều phối, khi phát hiện nguy cơ nghiêm trọng, cơ quan đầu mối phải được trực tiếp yêu cầu cung cấp thông tin, tổ chức truy xuất, cảnh báo và áp dụng ngay biện pháp cần thiết. Không thể đặt trách nhiệm cuối cùng lên một cơ quan mà mỗi lần cần hành động lại phải chờ cơ quan khác có phối hợp kịp hay không.
Về dữ liệu, nếu thông tin đăng ký sản phẩm nằm ở một hệ thống, kết quả kiểm nghiệm ở hệ thống khác, dữ liệu sản xuất ở ngành nông nghiệp, lưu thông ở ngành công thương, còn số liệu ngộ độc ở ngành y tế, thì dù trên danh nghĩa đã có một đầu mối, cơ quan ấy vẫn chỉ nhìn thấy từng mảnh của bức tranh.
Quản lý theo nguy cơ, hướng mà dự thảo Luật theo đuổi, không có nghĩa là kiểm tra thật nhiều mà là kiểm tra đúng chỗ. Một doanh nghiệp nhiều lần có mẫu không đạt phải được xếp vào nhóm nguy cơ cao. Một nhà cung cấp suất ăn cho hàng chục trường học phải chịu mức giám sát khác hẳn một quầy bán lẻ ở chợ. Không có dữ liệu tập trung thì không thể phân loại như vậy, và “một đầu mối” khi ấy chỉ thay đổi nơi đặt hồ sơ.
Quan trọng nhất là trách nhiệm giải trình. Sau mỗi vụ việc nghiêm trọng, người dân được nghe rất nhiều về việc cơ quan nào đang kiểm tra, mẫu nào đang xét nghiệm. Điều họ hiếm khi được biết là trước đó cơ quan nào có trách nhiệm giám sát cơ sở ấy, nguy cơ đã từng được cảnh báo chưa, và vì sao hệ thống không phát hiện sớm hơn.
Doanh nghiệp đưa thực phẩm bẩn ra thị trường phải chịu trách nhiệm. Người sản xuất dùng chất cấm phải chịu trách nhiệm. Nhưng cơ quan nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm khi một nguy cơ thuộc phạm vi kiểm soát của mình kéo dài mà không được phát hiện. Luật sửa đổi cần biến “đầu mối” thành cơ chế trách nhiệm kiểm chứng được. Khi sự cố xảy ra, phải chỉ ra được cơ quan nào chịu trách nhiệm chính, đã làm gì, có cảnh báo từ trước hay không, và nếu quản lý không đầy đủ thì xử lý ra sao.
Thực tiễn cũng đã có chỗ để đối chiếu. TPHCM là địa phương duy nhất thí điểm Sở An toàn thực phẩm quản lý thống nhất các nhóm hàng trước đây thuộc ba ngành. Dự thảo Đề án đề xuất nhân rộng mô hình Sở An toàn thực phẩm trực thuộc UBND cấp tỉnh, trong khi ngành nông nghiệp giữ quản lý khâu sản xuất ban đầu, ngành công thương giữ nhiệm vụ chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại. Những gì TPHCM làm được và chưa làm được cần được đánh giá công khai trước khi áp mô hình cho cả nước.
Cũng phải nói thẳng, tập trung đầu mối không phải “thuốc tiên”. Một cơ quan duy nhất nhưng thiếu người, thiếu năng lực kiểm nghiệm, không tiếp cận được dữ liệu sẽ trở thành điểm nghẽn mới. Gom quyền mà không có cơ chế kiểm soát thì mọi việc đều phải đi qua một cửa, thủ tục dày thêm và tốc độ phản ứng chậm lại. Mục tiêu không phải là tập trung càng nhiều quyền càng tốt, mà là tạo ra một chuỗi trách nhiệm không đứt đoạn.
Người dân không quan tâm quả trứng, chai nước thuộc danh mục quản lý nào. Phân chia thẩm quyền là việc nội bộ của bộ máy. Với người dân, cơ quan quản lý nhà nước phải hiện diện như một chủ thể thống nhất chịu trách nhiệm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Giảm từ ba đầu mối xuống một chỉ thực sự là cải cách khi luật trả lời được ba câu hỏi: Ai có quyền hành động ngay khi nguy cơ xuất hiện? Ai nắm đủ thông tin để hành động? Và nếu hệ thống không chặn được một nguy cơ lẽ ra phải phát hiện, ai phải chịu trách nhiệm? Còn nếu chỉ thay tên cơ quan trên sơ đồ, “một mâm cơm, ba Bộ quản lý” có thể biến mất khỏi văn bản, nhưng căn bệnh mà câu nói ấy phản ánh vẫn còn nguyên.
Tác giả: Hoàng Hà là luật sư thuộc Đoàn Luật sư TPHCM, luật gia thuộc Hội Luật gia Việt Nam. Anh tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội, thạc sĩ Luật Kinh tế tại Đại học Kinh tế TPHCM.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!