Người đứng tên sổ đỏ khởi kiện đòi lại đất
Theo trình bày của bà N. (ngụ TPHCM), năm 2012, bà nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất rộng 120m2 tại TP Vũng Tàu, nay thuộc TPHCM, từ hai người khác. Thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2009.
Sau khi nhận chuyển nhượng, bà N. cho biết đã xây tường bao để bảo vệ ranh giới thửa đất. Tuy nhiên, trong tháng 4 và tháng 5/2021, bà phát hiện ông H., ông Q. và bà T. xây dựng, sử dụng nhà trên phần đất mà bà cho rằng thuộc quyền sử dụng của mình.
Bà N. khởi kiện, yêu cầu ba người tháo dỡ tài sản và trả lại đất. Bà đồng ý thanh toán giá trị tài sản trên đất theo kết quả định giá để nhận lại mặt bằng.
Ở chiều ngược lại, bà T. cho biết gia đình đã quản lý, sử dụng nhà đất ổn định hơn 20 năm, có đăng ký hộ khẩu, sinh sống và buôn bán tại đây. Bà cho rằng chồng cũ đã mua đất bằng giấy viết tay vào năm 2001, sau đó xây dựng nhà ở. Sau khi ly hôn năm 2018, phần nhà đất này được để lại cho mẹ con bà quản lý, sử dụng.
Trong khi đó, ông H. và ông Q. đều khai nhận đã mua đất bằng giấy viết tay từ một người tên D. vào năm 2011, với giá 1,2 tỷ đồng cho diện tích khoảng 40m2 mỗi phần. Hai ông cho rằng đã sử dụng đất ổn định và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.
Bà T. và ông Q. đều yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hai người chuyển nhượng đất cho bà N.
Tuy nhiên, chính quyền địa phương cho biết hồ sơ cấp giấy chứng nhận không thể hiện thông tin về việc ông H., ông Q. và bà T. sử dụng đất.
Xét xử sơ thẩm, TAND khu vực 11 - TPHCM chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N., không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T. và ông Q. Tòa buộc các bị đơn cùng những người đang sinh sống trên đất di dời, trả lại đất cho bà N.
Đổi lại, bà N. phải thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bà T. 122 triệu đồng, ông Q. 95 triệu đồng và ông H. 69 triệu đồng. Sau khi thanh toán, bà N. được quyền sử dụng các tài sản trên những phần đất tương ứng theo phán quyết của tòa.
Không đồng ý với phán quyết trên, ông H., bà T. và ông Q. kháng cáo.
Không chứng minh được căn cứ pháp lý để giữ đất
Tại phiên phúc thẩm, TAND TPHCM nhận định thửa đất tranh chấp có nguồn gốc sử dụng từ trước năm 1990, sau đó được chuyển nhượng, đăng ký và cấp giấy chứng nhận qua nhiều giai đoạn. Năm 2009, UBND TP Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này. Đến năm 2012, bà N. nhận chuyển nhượng toàn bộ diện tích.
Trong khi đó, ông H., bà T. và ông Q. đang sử dụng các phần đất tương ứng trong thửa đất. Các căn nhà trên đất được xác định xây dựng trước năm 2002, nhưng không xác định được thời điểm cụ thể. Theo hồ sơ, việc xây dựng không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền và các căn nhà cũng không được cấp số nhà.
Tòa phúc thẩm nhận định các bị đơn không cung cấp được tài liệu chứng minh việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp. Ba người cũng không đáp ứng điều kiện để được công nhận quyền sở hữu, sử dụng nhà đất theo Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 138 Luật Đất đai năm 2024.
Từ đó, tòa phúc thẩm cho rằng cấp sơ thẩm có căn cứ khi chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N. và không chấp nhận yêu cầu phản tố, ý kiến phản đối của các bị đơn. Các kháng cáo không có cơ sở để chấp nhận.
Tòa phúc thẩm giữ nguyên phán quyết sơ thẩm: bà N. được nhận lại đất sau khi thanh toán giá trị tài sản trên đất theo bản án; các bị đơn phải di dời và trả lại phần đất tranh chấp.
(Tham khảo Bản án số 1068/DS-PT ngày 27/5/2026 của TAND TPHCM)