Bỏ qua điều hướng

Mùa lúa chét cuối cùng - Truyện ngắn của Trần Minh Cường

Mùa lúa chét cuối cùng - Truyện ngắn của Trần Minh Cường
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Ở miệt dưới này, người ta gọi lúa chét là thứ lúa mọc lên sau mùa gặt. Lúa chính đã cúi đầu cho người ta gặt hết rồi, ruộng trơ gốc rạ, bùn phơi mình dưới nắng, vậy mà ít bữa sau, từ những chân rạ còn sót lại lại nhú lên những mầm xanh. Không ai gieo, không ai chăm, cũng chẳng ai trông chờ. Nó tự mọc, tự lớn, tới mùa thì trổ bông. Hạt nhỏ hơn lúa thường, thưa hơn, nhưng hễ gặp nước là chịu khó vươn lên. Má tôi hồi còn sống thường nói, đời người đàn bà cũng giống lúa chét. Không ai gieo mà vẫn mọc. Không ai đợi mà vẫn thương.

Hồi đó tôi còn nhỏ, nghe chẳng hiểu gì. Sau này lớn lên, tôi mới biết má nói đúng. Tôi tên Út Lành. Cái tên nghe lành thiệt, nhưng đời tôi chẳng lành bao nhiêu.

Nhà tôi nằm cuối con kinh, cách chợ hơn bốn cây số, đi bộ qua hai cây cầu khỉ. Hồi nhỏ, tôi thường ngồi trên bờ ruộng nhìn những bông lúa chét đong đưa. Chúng mảnh khảnh, nhẹ tênh. Gió thổi một cái là cả đám nghiêng rạp xuống, rồi lát sau lại ngóc đầu lên. Tôi thích chúng. Có lần tôi hỏi má.

- Lúa này để làm gì vậy má?

Má đang lựa cá linh, không ngước lên.

- Để ăn.

- Có ai mua không?

- Không ai mua thì mình ăn.

Tôi cười. Má không cười.

- Có thứ trên đời này người ta chỉ giữ lại vì nghèo, chớ không phải vì người ta thương.

Tôi không hiểu. Mãi tới năm hai mươi ba tuổi, tôi mới hiểu. Năm đó tôi gặp anh. Anh tên Vĩnh. Anh từ thị trấn về thuê miếng ruộng của ông Bảy Sồi để trồng lúa. Người ta bảo anh là dân thành phố, làm ăn thất bại nên về quê. Người khác nói anh bỏ vợ. Có người lại nói anh chưa từng có vợ, chẳng qua trên thị trấn có một người đàn bà chờ anh. Ở quê, chuyện người ta không biết thì người ta nói cho biết. Tôi không hỏi.

Mùa lúa chét cuối cùng - Truyện ngắn của Trần Minh Cường- Ảnh 1.

Minh họa: Tuấn Anh

Tôi chỉ biết mỗi chiều anh thường chèo xuồng ngang qua nhà tôi. Tôi khi ấy bán bánh lá dừa ngoài chợ. Chiều nào về cũng ngồi bên mé ruộng rửa chân. Anh đi ngang, có hôm hỏi:

- Lành, hôm nay bán được không?

Tôi nói:

- Đủ mua gạo.

Anh cười:

- Vậy là giàu rồi.

Tôi hỏi:

- Còn anh?

- Anh nghèo.

- Anh có ruộng.

- Ruộng của người ta.

- Có xuồng.

- Xuồng mượn.

- Có áo đẹp.

Anh cúi xuống nhìn cái áo sơ mi đã sờn cổ.

- Cái này cũ rồi.

Tôi cười.

- Vậy mà đẹp.

Anh nhìn tôi lâu hơn bình thường. Tôi quay mặt đi. Từ hôm đó, chiều nào anh cũng chèo xuồng ngang nhà tôi. Có những tình yêu bắt đầu bằng những chuyện chẳng đáng kể như vậy. Một người hỏi hôm nay bán được không. Một người trả lời đủ mua gạo. Rồi thương nhau lúc nào chẳng hay.

Năm đó ruộng quê tôi xanh rì. Lúa chét mọc đầy những chân ruộng sau mùa gặt. Không ai để ý tới nó, trừ tôi và Vĩnh. Một buổi chiều, anh nói:

- Nhìn nó giống em.

Tôi hỏi:

- Giống chỗ nào?

- Nhỏ.

Tôi đập anh một cái. Anh cười.

- Nhẹ.

Tôi lại đập. Anh nắm tay tôi.

- Dễ bị gió cuốn đi.

Lần này tôi không đánh nữa. Tôi chỉ nhìn bàn tay anh. Bàn tay có những đường chai vì cầm cuốc, cầm mái chèo. Tôi đã nghĩ, nếu một đời người có thể chọn một bàn tay để nắm, thì chắc tôi sẽ chọn bàn tay đó. Tôi không biết có những bàn tay sinh ra để nắm lấy mình, và cũng có những bàn tay chỉ ghé qua một đoạn đời. Vĩnh thương tôi. Tôi tin vậy. Anh thương tôi bằng những buổi chiều chèo xuồng tới tận nhà, bằng những trái ổi hái ở vườn ông Năm, bằng lần anh lội xuống ruộng chỉ để nhặt chiếc dép tôi đánh rơi. Anh còn nói:

- Sau này mình cưới nhau, anh cất cái nhà bên mé kinh.

Tôi hỏi:

- Nhà nhỏ thôi hả?

- Nhỏ.

- Có hàng cau không?

- Có.

- Có giàn bông giấy?

- Có.

- Có chỗ cho má em?

Anh im lặng một chút rồi nói:

- Có.

Chỉ một chữ đó thôi mà tôi thương anh nhiều thêm. Má tôi lúc ấy bệnh. Bệnh của người già, đau chỗ này một chút, chỗ kia một chút. Bà biết mình chẳng còn bao lâu nên cứ nhắc tôi:

- Con gái đừng lấy chồng xa.

Tôi hỏi:

- Xa là bao xa?

- Xa tới chỗ người ta không biết đường về nhà mình.

Tôi cười.

- Anh Vĩnh biết đường mà.

Má nhìn tôi.

- Biết đường về nhà chưa chắc biết đường về với con.

Tôi giận má. Tôi bỏ ra sau hè. Nhưng tối đó nằm nghe tiếng mưa trên mái lá, tôi cứ nhớ câu nói ấy. Người đàn bà quê tôi thường có một nỗi sợ kỳ lạ. Sợ chồng đi. Sợ con đi. Sợ người thương thay lòng. Sợ nhất là lúc mình đã trao hết rồi mà người ta vẫn còn một phần đời khác để quay về. Vĩnh chưa từng nói anh có ai. Tôi cũng chưa từng hỏi. Có lẽ vì tôi sợ câu trả lời. Một buổi tối, anh đưa tôi ra giữa đồng. Mùa lúa chét vừa trổ. Những bông lúa nhỏ li ti rung rinh trong gió.

- Lành.

- Dạ?

- Mai mốt nếu anh đi, em có đợi không?

Tôi cười.

- Đi đâu?

- Đi làm ăn.

- Bao lâu?

- Không biết.

Tôi nhìn anh.

- Vậy đợi làm gì?

Anh không trả lời. Tôi nói:

- Anh đi đâu thì đi. Chừng nào về thì về.

Anh nắm tay tôi.

- Em không hỏi anh đi đâu sao?

- Anh muốn nói thì nói.

- Anh sợ em hỏi.

Tôi quay sang.

- Vậy anh đừng đi.

Anh cười, nụ cười đó làm tôi đau. Nhưng lúc ấy tôi chưa biết đó là nụ cười của một người đã quyết định rồi. Ba ngày sau, Vĩnh đi. Anh để lại cho tôi một chiếc khăn. Không có thư. Chỉ nói với má tôi:

- Con lên thị trấn ít bữa.

Ít bữa của người đàn ông là bao lâu, tôi không biết. Tôi chờ. Một tuần. Hai tuần. Một tháng. Mùa nước nổi về. Nước tràn qua ruộng, cuốn theo rơm rạ và những bông lúa chét còn sót. Tôi vẫn ngồi bên bờ kinh mỗi chiều.

Rồi một hôm, tôi nhận được thư. Thư của Vĩnh. Chỉ vài dòng. Anh nói anh xin được việc trên thành phố. Anh nói anh xin lỗi. Tôi đọc đi đọc lại. Không có chữ nào nói anh sẽ trở về. Tôi cầm lá thư ra sau nhà. Ngồi dưới cây mận. Tôi khóc. Khóc rất lâu. Không phải vì anh đi, mà vì trong những dòng chữ đó, tôi hiểu anh chưa bao giờ thật sự thuộc về tôi. Tôi chỉ là một đoạn đường anh đi ngang, giống như con nước ngang qua bờ ruộng. Nó làm đất mềm ra, rồi rút đi, để lại một bãi bùn lạnh ngắt.

Đàn bà ở quê, có buồn thì buồn, có đau thì đau, nhưng sáng ra vẫn phải nhóm bếp. Tôi đi chợ, bán bánh, về nấu cơm, chăm má, chiều tưới rau, tối nghe tiếng xuồng ai chạy ngoài kinh giật mình tưởng Vĩnh về. Nhưng người ta không thể sống bằng một tiếng mái chèo. Má ngày càng yếu. Một hôm bà nói:

- Sau này, con lấy chồng đi.

Tôi nói:

- Con không lấy.

- Vì nó?

Tôi không trả lời. Má thở dài.

- Người chết còn phải bỏ. Huống chi người sống.

Tôi hỏi:

- Nếu người ta thương mình thì sao?

Má nhìn ra ngoài sân.

- Thương thì người ta ở.

Tôi nhớ câu đó rất lâu. Vĩnh không ở.

Vậy có nghĩa là anh không thương tôi sao? Tôi không biết. Có lẽ con người ta có thể thương nhau mà vẫn bỏ nhau. Cũng như có những người thương mình nhưng không đủ sức bảo vệ mình.

Ngày má mất, tôi đưa má ra đồng, trời không mưa. Ruộng sau mùa gặt trơ gốc. Một ít lúa chét đã nhú lên, xanh non. Tôi đứng nhìn những chân rạ vàng úa. Tôi chợt nghĩ tới Vĩnh. Tôi ghét mình vì vẫn nghĩ tới anh trong ngày má mất. Nhưng người ta đâu điều khiển được trái tim. Tôi đem chiếc khăn anh cho tôi bỏ vào quan tài của má.

Năm thứ ba sau ngày Vĩnh đi, tôi nghe tin anh cưới vợ. Tôi nghe tin từ bà Sáu bán cá.

- Nghe đâu cưới lớn lắm.

Tôi hỏi:

- Vậy hả?

- Ừ.

Tôi gật đầu.

Tối đó tôi ra ruộng. Lúa chét vừa lên. Gió thổi rì rào. Tôi ngồi giữa ruộng tới khuya. Không khóc. Tôi chỉ thấy trong lòng mình trống rỗng, như căn nhà đã dọn hết đồ, không còn gì để mất.

Chúng tôi từng có một đêm bên bờ kinh, trước khi anh đi. Tôi mang thai, đứa bé là của Vĩnh. Tôi biết, má biết. Anh không biết. Tôi cũng không nói. Tôi không muốn kéo anh về bằng một đứa trẻ. Tôi sinh con gái, đặt tên là Mận. Con bé giống Vĩnh, nhất là đôi mắt. Tôi nhìn nó mà vừa thương vừa giận.

Tôi nói với nó:

- Cha con ở xa.

Nó lớn lên với một người cha không có mặt trong nhà. Tôi không nói xấu Vĩnh. Tôi cũng không kể cho con nghe chuyện chúng tôi từng yêu nhau. Tôi chỉ nói:

- Cha con là người tốt.

Mười hai năm sau, Mận đã lớn. Con bé học trên huyện. Nó muốn lên thành phố. Tôi không cản. Tôi biết đời nó không thể mãi nằm lại ở cái bờ kinh này. Năm ấy, quê tôi có một mùa lúa chét rất đẹp. Sau vụ gặt, đồng ruộng xanh trở lại. Những bông lúa nhỏ cúi xuống dưới gió. Người ta nói năm đó nước về sớm nên lúa chét tốt. Tôi cắt một ít đem về phơi.

Mận hỏi:

- Mẹ giữ làm gì?

- Tính nấu cơm.

- Lúa chét mà cũng ăn được hả?

- Ăn được.

- Ngon không?

Tôi cười.

- Không ngon bằng lúa mới.

- Vậy sao mẹ ăn?

Tôi nhìn ra đồng.

- Vì nó còn sống.

Đúng lúc đó Vĩnh trở về. Tôi gặp anh ở chợ. Anh đứng bên quầy cá, tóc đã bạc hai bên thái dương. Tôi nhận ra anh ngay. Người ta có thể quên một gương mặt, nhưng không dễ quên một người từng nằm trong lòng mình. Anh cũng nhận ra tôi.

- Lành.

Tôi gật đầu.

- Lâu quá.

- Ừ.

Anh nhìn tôi. Tôi nhìn anh. Không ai biết nói gì. Cuối cùng anh hỏi:

- Em sống sao?

- Tôi sống.

Anh cười buồn.

- Con em đâu?

Tôi nhìn anh.

- Con gái...

- Bao nhiêu tuổi?

- Mười hai.

Anh khựng lại. Chỉ một chút thôi. Nhưng tôi thấy. Anh hỏi:

- Có giống anh không?

- Không.

Tôi nói dối. Vĩnh cúi đầu. Một lát sau anh nói:

- Anh xin lỗi.

Tôi cười.

- Có gì đâu.

- Lành.

- Ừ?

- Anh từng thương em.

Tôi nhìn những người qua lại trong chợ.

- Em biết.

- Anh không quên.

- Không quên thì sao?

Anh im lặng. Tôi nói:

- Vậy thôi.

Đôi khi câu chuyện của hai người đã hết, nhưng một người cứ cố tìm thêm một câu để nói. Tôi không muốn nghe nữa. Tôi đi về. Chiều hôm đó, Vĩnh tìm tới nhà. Mận đang ngồi học. Anh đứng ngoài hàng rào. Tôi biết anh nhìn con bé. Anh không hỏi. Tôi cũng không nói. Một lúc lâu, anh mới nói:

- Anh có thể gặp con không?

Tôi nhìn anh.

- Không.

Anh gật đầu.

- Anh hiểu.

Tôi tưởng anh sẽ đi. Nhưng anh đứng đó thêm một lúc.

- Lành, ngày đó anh đi vì anh nghĩ mình nghèo quá.

Tôi không nói.

- Anh sợ kéo em theo.

- Anh có từng nghĩ em cần anh giàu không?

Anh cúi mặt.

- Không.

- Vậy tại sao anh không hỏi?

Anh không trả lời. Tôi thấy thương anh. Lạ chưa, người làm mình đau, tới lúc gặp lại, mình vẫn có thể thương.

Tôi nói:

- Về đi.

Anh quay lưng. Tôi đứng nhìn theo. Tôi không biết đó là lần cuối cùng mình thấy Vĩnh. Ba ngày sau, anh mất. Người ta bảo anh bị tai nạn trên đường về thành phố. Tôi nghe tin vào một buổi chiều. Lúc ấy tôi đang phơi lúa chét ngoài sân. Tôi đứng im rất lâu.

Mận chạy tới hỏi:

- Mẹ sao vậy?

Tôi nói:

- Không sao.

Tôi nhìn những hạt lúa nhỏ trong nia. Chúng nhẹ tới mức chỉ cần một cơn gió mạnh là bay. Tôi chợt nghĩ, có những người đi qua đời mình cũng vậy. Tưởng rằng họ chỉ rời khỏi một lần. Ai ngờ họ rời khỏi mãi mãi. Mận biết Vĩnh là cha mình sau đám tang. Tôi không giấu nữa. Con bé ngồi bên tôi suốt một buổi chiều.

- Cha có thương mẹ không?

Tôi nhìn ra đồng.

- Có.

- Vậy tại sao cha bỏ mẹ?

Tôi im lặng rất lâu.

- Có những người thương nhau mà không biết cách ở lại.

Mận khóc. Tôi không khóc.

Nó cúi xuống.

- Mẹ có giận cha không?

Tôi nghĩ một lúc.

- Ngày trước có.

- Còn bây giờ?

- Không.

Tôi nhìn những bông lúa chét ngoài đồng.

- Vì giận một người đã chết cũng chẳng làm người đó sống lại.

Mận ôm tôi. Lần đầu tiên sau nhiều năm, tôi cho phép mình khóc. Tôi khóc như người ta xả nước khỏi một con đập cũ. Bao nhiêu năm không khóc, nước mắt vẫn còn nguyên. Chúng tôi đem tro của Vĩnh về quê. Không phải tôi muốn. Là vợ anh muốn. Chị ấy tìm tới nhà tôi. Chị ta không đẹp như tôi tưởng. Chỉ là một người đàn bà bình thường, có đôi mắt mệt mỏi.

Chị nói:

- Anh ấy có lỗi với chị.

Tôi không biết trả lời sao. Chị đưa tôi một cái hộp.

- Anh ấy giữ cái này nhiều năm.

Tôi mở ra. Bên trong là một chiếc khăn cũ. Tôi ngồi chết lặng. Tôi cứ tưởng mình đã chôn nó cùng má. Hóa ra Vĩnh đã lấy lại, không biết vào lúc nào. Trong hộp còn có một tờ giấy. Chỉ một dòng:

- Nếu có một lần nữa, anh sẽ ở lại.

Tôi gấp tờ giấy lại. Tôi đem chiếc khăn ra bờ kinh. Gió chiều thổi qua đồng. Mùa lúa chét đã hết. Người ta vừa cày ruộng để chuẩn bị cho vụ mới. Những gốc rạ bị vùi xuống bùn. Tôi đứng đó rất lâu, Mận đứng bên cạnh.

- Mẹ định làm gì?

- Về nhà.

Tôi thả chiếc khăn xuống dòng nước. Chiếc khăn nổi một lúc rồi chìm, như một lời tạm biệt cuối cùng.

Mùa lúa chét năm ấy là mùa cuối cùng tôi còn nhớ rõ. Sau đó, người ta đổi giống lúa. Ruộng quê tôi không còn ai để lúa chét mọc nữa. Máy móc xuống đồng. Người ta cày hết gốc rạ ngay sau mùa gặt. Đồng ruộng sạch sẽ hơn. Năng suất cao hơn. Lúa chét biến mất. Những đứa trẻ lớn lên sau này chẳng còn biết thứ lúa nhỏ xíu đó là gì.

Một buổi chiều nhiều năm sau, Mận đưa con gái về thăm tôi. Con bé chạy ra ruộng.

- Bà ngoại ơi, lúa này là lúa gì?

Tôi nhìn xuống. Một đám lúa chét mọc lên ở góc ruộng bỏ hoang. Tôi ngồi xuống, vuốt nhẹ một bông lúa.

- Lúa chét.

- Ăn được không bà?

Tôi cười.

- Được.

- Nó có ngon không?

Tôi nhìn cánh đồng.

- Không ngon lắm.

- Vậy sao bà thích?

Tôi không trả lời ngay. Gió thổi qua. Những bông lúa nhỏ nghiêng theo chiều gió. Tôi chợt thấy mình của rất nhiều năm trước. Một cô gái ngồi bên bờ kinh, chờ một chiếc xuồng đi ngang. Một người đàn ông cười với cô. Một lời hứa được nói ra giữa đồng. Một mùa lúa chét. Và một đời người đàn bà nhẹ như hạt lúa.

Tôi nói với cháu:

- Vì nó giống người.

- Giống người sao hả bà?

Tôi cười.

- Nhỏ. Nhẹ. Không ai gieo mà vẫn mọc.

Con bé chẳng hiểu. Nó chạy đi hái hoa. Tôi ngồi lại một mình. Trời về chiều. Khói rơm từ cuối xóm bay lên, mỏng như một lớp sương. Tôi nghe tiếng xuồng máy ngoài con kinh. Vẫn có những chiếc xuồng đi ngang. Chỉ là tôi không còn chờ ai nữa.

Tôi cúi xuống nhặt một hạt lúa chét rơi trên bùn. Nó nhỏ xíu, nằm trong lòng bàn tay tôi, nhẹ như một điều chưa từng xảy ra. Tôi khép tay lại, rồi lại mở ra, hạt lúa vẫn còn đó. Tôi bỗng nghĩ, có lẽ tình yêu cũng vậy. Có những chuyện mình tưởng đã quên từ lâu, nhưng chỉ cần một buổi chiều gió đổi hướng, một mùi bùn non, một tiếng mái chèo khua nước, nó lại nằm nguyên trong lòng bàn tay. Nhẹ tênh mà nặng cả một đời. 

Tác phẩm Mùa lúa chét cuối cùng của tác giả Trần Minh Cường khắc họa không gian miền Tây Nam Bộ qua góc nhìn của nhân vật Út Lành. Nhỏ bé bên con kinh cách chợ hơn bốn cây số và trải qua hai cây cầu khỉ, cô gái làm nghề bán bánh lá dừa gắn bó đời mình với hình ảnh mầm lúa chét tự vươn lên sau mùa gặt. Qua lời dạy của người má đã khuất, sức sống dai dẳng của loài cây không ai gieo trồng đã trở thành biểu tượng phản chiếu số phận kiên cường nhưng lặng lẽ của người phụ nữ nông thôn. Bước ngoặt tâm lý của nhân vật diễn ra vào năm hai mươi ba tuổi khi cô gặp Vĩnh, một người đàn ông từ thị trấn về thuê ruộng của ông Bảy Sồi. Những buổi chiều chèo xuồng ngang qua nhà Út Lành và các cuộc trò chuyện giản dị về mưu sinh hằng ngày đã kết nối hai tâm hồn đồng điệu. Dù dư luận xung quanh xì xào về quá khứ thất bại hay hôn nhân chưa rõ ràng của Vĩnh, Út Lành vẫn dành trọn niềm tin cho người đàn ông mang bàn tay chai sần vì lao động. Hình ảnh lúa chét mọc thưa thớt trên chân rạ phơi mình dưới nắng thu hút sự đồng cảm sâu sắc từ cả hai nhân vật trong những ngày ruộng quê xanh rì. Vĩnh ví sự mong manh của Út Lành giống như mầm lúa dễ bị gió cuốn đi, tạo nên chất thơ mộng đượm buồn cho tác phẩm. Qua đó, câu chuyện không chỉ khắc họa một tình yêu mộc mạc nơi đồng quê mà còn mở ra những ẩn ý nghệ thuật về các mối duyên ghé ngang qua đoạn đời người.