Bỏ qua điều hướng

Nâng cao giá trị “cộng thêm” từ rừng

Nâng cao giá trị “cộng thêm” từ rừng
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Lâm Đồng có diện tích rừng lớn, hệ sinh thái đa dạng, là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển kinh tế rừng theo hướng đa giá trị. Khả năng hấp thụ, lưu giữ các-bon và thị trường tín chỉ các-bon được kỳ vọng mở thêm nguồn lực cho bảo vệ rừng, cải thiện sinh kế cộng đồng và phát triển kinh tế-xã ...

Để nâng cao giá trị “cộng thêm” từ rừng, Lâm Đồng đang tập trung xây dựng dữ liệu và lộ trình tham gia thị trường tín chỉ các-bon.

Nhiều tiềm năng và lợi thế

Theo số liệu công bố hiện trạng rừng năm 2025, toàn tỉnh có hơn 1,1 triệu héc-ta rừng, tỷ lệ che phủ đạt hơn 45,9%; trong đó phần lớn là diện tích rừng tự nhiên, với hơn 83%. Địa phương còn sở hữu hệ sinh thái rừng đa dạng, với nhiều khu vực có giá trị cao về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan, đa dạng sinh học và văn hóa bản địa.

Tiêu biểu như Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Biang; các Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, Tà Đùng; các Khu bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung, Tà Kóu, Núi Ông cùng hệ thống rừng đặc dụng, rừng phòng hộ quy mô lớn. Đây là cơ sở để tỉnh phát triển các dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon từ rừng, xây dựng các chương trình, dự án giảm phát thải, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các-bon rừng.

Bên cạnh đó, Lâm Đồng còn có tiềm năng lớn để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và giải trí trong rừng, bao gồm các hoạt động như tham quan, trải nghiệm thiên nhiên, nghiên cứu, giáo dục môi trường và tìm hiểu văn hóa bản địa. Những hoạt động này có thể tạo thêm nguồn lực cho công tác quản lý, bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng, đồng thời góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, tạo việc làm và nâng cao sinh kế cho cộng đồng sống gần rừng.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Tiến (Khoa Sinh học Trường đại học Đà Lạt), tín chỉ các-bon góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển bền vững và tham gia chuỗi giá trị kinh tế toàn cầu. Việc triển khai hiệu quả các chương trình tín chỉ các-bon sẽ góp phần bảo vệ môi trường, nâng cao đời sống cho người dân trồng rừng và bảo vệ rừng, tạo dựng tương lai xanh cho Lâm Đồng và khu vực.

Nhiều chuyên gia cho rằng, diện tích rừng và trữ lượng các-bon hiện tại phản ánh tiềm năng sinh học, không đồng nghĩa với lượng tín chỉ các-bon có thể được cấp và giao dịch. Khả năng tạo ra tín chỉ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đường cơ sở, tính bổ sung, kết quả đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV); đồng thời bảo đảm tính lâu dài, kiểm soát rò rỉ phát thải, tránh tình trạng trùng lặp và đáp ứng yêu cầu giảm phát thải phục vụ đóng góp tự nguyện của quốc gia.

Phó Cục trưởng Lâm nghiệp và Kiểm lâm Phạm Hồng Lượng nhận định: “Những bước đi ban đầu của Lâm Đồng khá cụ thể, bài bản, từ phổ biến chính sách, cung cấp thông tin đến rà soát các điều kiện cần thiết. Bước tiếp theo, địa phương cần xác định các khu vực tiềm năng, xây dựng ý tưởng dự án và thực hiện các bước đăng ký theo quy định”.

Đối với Lâm Đồng, rừng và đất lâm nghiệp là tài nguyên đặc biệt quan trọng, gắn với quá trình phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm an ninh nguồn nước, giữ gìn cảnh quan, đa dạng sinh học của địa phương.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Ngọc Phúc cho rằng: “Địa phương rất chú trọng việc nghiên cứu để phát huy giá trị hấp thụ, lưu giữ các-bon rừng. Quá trình này được đặt trong tổng thể mục tiêu quản lý, phát triển kinh tế-xã hội và phát triển rừng của địa phương”.

Nền tảng để phát huy giá trị từ rừng

Lâm Đồng là một trong những địa phương thuộc phạm vi Chương trình giảm phát thải vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, xây dựng theo tiêu chuẩn ART-TREES. Tuy nhiên, việc triển khai hiện vẫn chủ yếu ở giai đoạn phổ biến chính sách, rà soát cơ sở pháp lý, chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao năng lực.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Phúc cho rằng, các ý kiến của chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý đối với lĩnh vực này là cơ sở để Lâm Đồng nghiên cứu, nhận diện rõ hơn về tiềm năng và lợi thế trong phát huy giá trị dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon. Tuy nhiên, lĩnh vực này không chỉ đòi hỏi xác định được tiềm năng của tài nguyên rừng, cần bảo đảm cơ sở pháp lý, tính khoa học, tính minh bạch và khả năng kiểm chứng kết quả giảm thải phát bằng hấp thụ các-bon.

Nhiều chuyên gia phân tích, nếu tiềm năng, lợi thế là điều kiện cần, thì dữ liệu chính là nền móng để Lâm Đồng triển khai hoạt động hấp thụ, lưu giữ các-bon và tham gia thị trường tín chỉ các-bon. Theo ông Phạm Hồng Lượng, Lâm Đồng cần ưu tiên chuẩn hóa dữ liệu rừng, xác định hiện trạng, chủ rừng và quyền hưởng lợi; đồng thời, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, đơn vị chủ rừng.

Việc triển khai các dự án riêng lẻ cần được xem xét thận trọng, tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật, phù hợp mục tiêu giảm phát thải quốc gia.

Chuyên gia Nguyễn Thị Mỹ Linh, đại diện Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam nhấn mạnh về yêu cầu xây dựng năng lực cho cơ quan quản lý, chủ rừng và doanh nghiệp. Bà gợi mở, cùng với đào tạo nhân lực, Lâm Đồng cần nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu, đánh giá tiềm năng các-bon trên địa bàn, xác định vùng ưu tiên và nghiên cứu triển khai một số dự án thí điểm phù hợp.

Thời gian qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai Nghị định số 180 của Chính phủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon rừng, đồng thời công bố các thủ tục hành chính liên quan dự án các-bon rừng. Tuy nhiên, điều cần làm trước mắt là tập trung hoàn thiện nền tảng.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Ngọc Phúc nhấn mạnh, Lâm Đồng có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế rừng.

Thời gian tới, tỉnh tiếp tục cập nhật các quy định, tiêu chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật của Trung ương về dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon rừng; đồng thời, xây dựng hệ thống dữ liệu về rừng và khả năng hấp thụ các-bon theo hướng chính xác, minh bạch; tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý, bảo vệ rừng và đào tạo chuyên môn cho cán bộ, chủ rừng.

Theo đó, Lâm Đồng đang từng bước tiếp cận và phát huy những giá trị mới từ tài nguyên rừng theo hướng thận trọng, bền vững; định hướng việc tham gia thị trường tín chỉ các-bon rừng phải bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng, cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng và các bên liên quan.

Trong đó, mục tiêu xuyên suốt là bảo vệ, nâng cao chất lượng rừng và phát triển lâm nghiệp bền vững.

Bài và ảnh: MAI VĂN BẢO

Lâm Đồng sở hữu hơn 1,1 triệu héc-ta rừng với tỷ lệ che phủ đạt trên 45,9%, trong đó diện tích rừng tự nhiên chiếm tới hơn 83%. Nơi đây quy tụ nhiều hệ sinh thái giá trị như Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Biang, các Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, Tà Đùng cùng hàng loạt khu bảo tồn thiên nhiên. Đây là nền tảng chiến lược để địa phương phát triển các dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon và đẩy mạnh du lịch sinh thái nghỉ dưỡng. Việc tham gia thị trường tín chỉ các-bon được kỳ vọng sẽ mở ra nguồn lực mới cho công tác quản lý, phục hồi rừng và nâng cao sinh kế cho cộng đồng địa phương. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Tiến, các chương trình này giúp thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững và đưa tỉnh tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Bên cạnh đó, các hoạt động trải nghiệm thiên nhiên và tìm hiểu văn hóa bản địa cũng góp phần bảo tồn đa dạng sinh học. Nhằm tối ưu hóa nguồn tài nguyên đặc biệt này, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nguyễn Ngọc Phúc khẳng định địa phương rất chú trọng phát huy giá trị hấp thụ các-bon rừng. Quá trình triển khai được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh nguồn nước và giữ gìn cảnh quan môi trường. Tỉnh đang tiếp tục rà soát các khu vực tiềm năng để xây dựng dự án và đăng ký theo đúng quy định.