Nga chế tạo thành công robot phẫu thuật thế hệ mới
Nguồn ảnh: KhoaHoc.tv
Theo phóng viên tại Mátxcơva, các nhà khoa học Nga đã chế tạo thành công robot phẫu thuật thế hệ mới và dự định sẽ đưa robot này vào hoạt động thử nghiệm lần đầu vào năm 2013 tới. >>> Thực hiện thành công ca cấy ghép gan bằng robot Thông tin nói trên được giáo sư - tiến sỹ khoa học Y Dmitry Pushkari...
Theo phóng viên tại Mátxcơva, các nhà khoa học Nga đã chế tạo thành công robot phẫu thuật thế hệ mới và dự định sẽ đưa robot này vào hoạt động thử nghiệm lần đầu vào năm 2013 tới.
Thông tin nói trên được giáo sư - tiến sỹ khoa học Y Dmitry Pushkari, đang công tác tại Trường Đại học Y - Nha khoa Mátxcơva (MGMSU) đưa ra khi ông phát biểu tại phiên họp ngày 30/5 của Đoàn Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Nga (RAN).
Robot da Vinci đang trợ giúp các bác sĩ trong một ca phẫu thuật thoát vị đĩa đệm.
Giáo sư Puscari cho biết robot phẫu thuật này được chế tạo trên cơ sở những kiến thức và kinh nghiệm nhận được trong quá trình sử dụng robot phẫu thuật da Vinci S của Mỹ được trang bị cho Trường MGMSU, cũng như với sự giúp đỡ của các kỹ sư hàng đầu đang làm việc tại Học viện thông tin thiết kế - công nghệ thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga (IKTI RAN).
Hiện nay, trong khi Mỹ có gần 2.500 robot da Vinci mà năm 2011 đã thực hiện hơn 100.000 ca phẫu thuật, Nga mới có 9 robot loại này và riêng robot da Vinci S của Trường MGMSU trong ba năm qua đã thực hiện 400 ca phẫu thuật tuyến tiền liệt.
Do Mỹ bán robot da Vinci với giá rất cao nên các nhà khoa học Nga đã chuyển sang nghiên cứu và sáng chế robot phẫu thuật thế hệ mới trong nước có cùng chức năng, nhưng với giá thấp hơn 2-3 lần và với kích thước gọn nhẹ hơn nhiều.
Các nhà khoa học Nga đã chế tạo thành công một robot phẫu thuật thế hệ mới, mở ra khả năng đưa thiết bị này vào hoạt động thử nghiệm lần đầu trong năm 2013. Thông tin được giáo sư, tiến sĩ khoa học y Dmitry Pushkari công bố tại phiên họp ngày 30/5 của Đoàn Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Ông Pushkari hiện công tác tại Trường Đại học Y, Nha khoa Mátxcơva, thường được viết tắt là MGMSU, nơi đang sử dụng robot phẫu thuật da Vinci S của Mỹ.
Mẫu robot mới của Nga được phát triển từ những kiến thức và kinh nghiệm tích lũy trong quá trình các bác sĩ MGMSU vận hành hệ thống da Vinci S. Việc chế tạo còn nhận được sự hỗ trợ của những kỹ sư hàng đầu thuộc Học viện Thông tin Thiết kế, Công nghệ, trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Nhóm nghiên cứu hướng tới một thiết bị trong nước có chức năng tương đương robot da Vinci, nhưng phù hợp hơn với điều kiện đầu tư của ngành y tế Nga.
Robot phẫu thuật cho phép bác sĩ thực hiện những thao tác phức tạp với sự hỗ trợ của hệ thống điều khiển chuyên dụng, thay vì trực tiếp thao tác hoàn toàn bằng tay. Nhờ kinh nghiệm thực tế từ thiết bị Mỹ, các nhà khoa học Nga có thêm cơ sở đánh giá yêu cầu kỹ thuật, quy trình vận hành và nhu cầu sử dụng trong bệnh viện. Khoảng cách giữa Nga và Mỹ về số lượng robot phẫu thuật hiện vẫn rất lớn, phản ánh sự khác biệt đáng kể về mức độ phổ biến của công nghệ này.
Tại Mỹ, gần 2.500 robot da Vinci đang được sử dụng, riêng trong năm 2011 đã hỗ trợ thực hiện hơn 100.000 ca phẫu thuật. Trong khi đó, Nga mới có chín robot cùng loại, cho thấy các cơ sở y tế nước này vẫn tiếp cận công nghệ phẫu thuật robot ở quy mô khá hạn chế. Tuy nhiên, một thiết bị da Vinci S tại Trường MGMSU đã thực hiện 400 ca phẫu thuật tuyến tiền liệt trong khoảng thời gian ba năm.
Con số này cung cấp kinh nghiệm lâm sàng quan trọng cho đội ngũ bác sĩ, kỹ sư và nhà nghiên cứu Nga khi phát triển robot phẫu thuật nội địa. Giá bán rất cao của robot da Vinci là một nguyên nhân thúc đẩy các nhà khoa học Nga tìm kiếm hướng chế tạo thiết bị thay thế trong nước. Sản phẩm mới được kỳ vọng có cùng chức năng cơ bản với hệ thống của Mỹ, đồng thời giảm đáng kể gánh nặng chi phí cho các bệnh viện.
Theo thông tin được công bố, robot phẫu thuật thế hệ mới của Nga có giá thấp hơn robot da Vinci từ hai đến ba lần. Ngoài lợi thế về giá, thiết bị nội địa còn được thiết kế gọn nhẹ hơn nhiều, yếu tố có thể giúp việc bố trí và vận hành trong bệnh viện thuận lợi hơn. Kích thước nhỏ hơn có ý nghĩa thực tế với các cơ sở y tế phải cân nhắc không gian lắp đặt, bảo trì và tổ chức khu vực phẫu thuật.
Dù vậy, robot mới trước hết vẫn cần trải qua giai đoạn hoạt động thử nghiệm dự kiến bắt đầu lần đầu vào năm 2013. Giai đoạn thử nghiệm sẽ là bước quan trọng để đánh giá khả năng vận hành, độ ổn định và mức độ đáp ứng những yêu cầu đặt ra trong phẫu thuật. Thông tin nguồn không nêu chi tiết về thiết kế cơ khí, hệ thống điều khiển hay danh mục ca bệnh dự kiến áp dụng cho robot mới.
Vì vậy, điểm nổi bật được xác nhận hiện nay tập trung vào nguồn gốc phát triển, mục tiêu giảm giá thành và thiết kế nhỏ gọn. Sự xuất hiện của robot phẫu thuật nội địa có thể giúp Nga chủ động hơn trong nghiên cứu, đào tạo và mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ y tế hiện đại. Từ nền tảng kinh nghiệm sử dụng da Vinci S, các nhà khoa học Nga đang hướng tới một lựa chọn phù hợp hơn với nhu cầu trong nước, chờ kiểm chứng qua thử nghiệm thực tế.