Hàng loạt ngân hàng công bố giảm lãi suất huy động và cho vay nhằm hỗ trợ sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, điều doanh nghiệp mong đợi không chỉ là mức lãi suất ưu đãi được niêm yết mà là khả năng tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý và thực chất.
Giảm lãi suất phải thực chất, không chỉ ở mức công bố
Sau những động thái chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất đang có sự điều chỉnh đáng chú ý. Tính đến ngày 26/10, hầu hết các ngân hàng đã công bố giảm lãi suất huy động, phổ biến khoảng 0,5%/năm đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Cùng với đó, nhiều ngân hàng công bố giảm lãi suất cho vay từ 1,5%-2%, thậm chí có chương trình giảm tới 3%/năm.
Những động thái này được kỳ vọng giúp doanh nghiệp tiết giảm chi phí tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, phía sau các thông báo giảm lãi suất, không ít doanh nghiệp vẫn băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn cũng như chi phí thực tế phải trả.
Chủ một doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ống nước tại Hà Nội cho biết doanh nghiệp vừa vay 2,5 tỷ đồng với lãi suất giảm 1,5%/năm so với trước. Theo vị lãnh đạo này, việc giảm lãi suất giúp tiết kiệm chi phí tài chính, cải thiện lợi nhuận trong bối cảnh đơn hàng sụt giảm.
Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi.
Ông Trần Thành Trọng - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Sáng Ban Mai, cho rằng ngành Ngân hàng cần tiếp tục giảm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, bởi biên lợi nhuận thấp và chu kỳ vốn kéo dài khiến mức lãi suất hơn 10%/năm vượt quá khả năng chịu đựng của nhiều doanh nghiệp.
Theo ông Trọng, bên cạnh giảm lãi suất, các tổ chức tín dụng cần linh hoạt hơn về điều kiện thế chấp, tăng cường thẩm định dựa trên hợp đồng, dòng tiền, uy tín và năng lực thực hiện của doanh nghiệp, đồng thời cần bảo đảm tính kế thừa trong chính sách tín dụng khi thay đổi nhân sự lãnh đạo chi nhánh, tránh yêu cầu khách hàng lâu năm phải làm lại hồ sơ, gây mất thời gian và phát sinh thủ tục không cần thiết.
Những kiến nghị này cho thấy, với doanh nghiệp, lãi suất chỉ là một phần của bài toán tiếp cận vốn. Ngay cả khi mặt bằng lãi suất giảm, các điều kiện tín dụng thiếu linh hoạt vẫn có thể khiến doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn cần thiết cho sản xuất, kinh doanh.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Văn Phương, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, điều quan trọng nhất là giảm lãi suất phải thực chất, giúp doanh nghiệp giảm chi phí vốn, hưởng ưu đãi đủ lâu và không phải bù lại bằng các khoản phí hoặc điều kiện phụ.
"Một chương trình công bố rất lớn nhưng giải ngân ít, hoặc chỉ ưu đãi vài tháng đầu, chưa thể xem là thành công," ông Phương nhấn mạnh.
Theo chuyên gia này, việc giảm lãi suất huy động khoảng 0,5 điểm phần trăm không đồng nghĩa ngân hàng lập tức có đủ dư địa giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2 điểm phần trăm. Nguyên nhân là các khoản tiền gửi huy động trước đó vẫn phải trả lãi theo hợp đồng, trong khi chi phí vốn bình quân chỉ giảm dần khi nguồn vốn cũ đáo hạn.
Ông Phương dẫn chứng, nếu ngân hàng giảm lãi suất cho vay 1,5% đối với 10.000 tỷ đồng dư nợ trong một năm, thu nhập lãi sẽ giảm khoảng 150 tỷ đồng, chưa tính phần chi phí huy động tiết kiệm được.
Do đó, cần xác định rõ quy mô dư nợ thực sự được giảm lãi suất, thời gian áp dụng và nguồn lực bù đắp, thay vì chỉ nhìn vào tỷ lệ giảm được công bố.
Cùng với yêu cầu giảm lãi suất cho vay, ông Lê Ngọc Lâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị BIDV, kêu gọi các ngân hàng giảm thực chất lãi suất huy động khoảng 0,5% nhằm tạo điều kiện kéo giảm mặt bằng lãi suất cho vay.
Tuy nhiên, việc giảm lãi suất cho vay mạnh hơn lãi suất huy động cũng đặt ra áp lực đối với hoạt động của các ngân hàng.
Theo phân tích của Công ty Chứng khoán TCBS, nếu phần dư nợ được giảm lãi suất 1,5%-2% chiếm khoảng 3%-5% danh mục cho vay, biên lãi ròng (NIM) toàn ngành có thể giảm khoảng 0,03%-0,07%, lợi nhuận trước thuế giảm khoảng 2%-4%.
Những phân tích trên cho thấy, giảm lãi suất không chỉ là việc điều chỉnh các mức niêm yết mà còn liên quan trực tiếp đến chi phí vốn, lợi nhuận và năng lực tài chính của ngân hàng. Do đó, việc triển khai cần bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp và an toàn hệ thống tín dụng.
Khơi thông dòng vốn nhưng không đánh đổi ổn định vĩ mô
Tiến sỹ Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam đánh giá việc giảm lãi suất thể hiện quyết tâm lớn của Chính phủ và ngành Ngân hàng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Theo ông Bình, lãi suất thấp hơn giúp doanh nghiệp giảm chi phí tài chính, tiết giảm chi phí sản xuất, kinh doanh và hỗ trợ tiêu dùng. Tuy nhiên, để chủ trương phát huy hiệu quả, việc giảm lãi suất cần được triển khai đồng bộ trong toàn hệ thống, thay vì chỉ tập trung ở một số ngân hàng.
Đây cũng là sự chia sẻ lợi ích đáng kể của ngành Ngân hàng trong bối cảnh nguy cơ lạm phát vẫn hiện hữu và áp lực từ bên ngoài còn lớn. Vì vậy, cùng với giảm lãi suất, chính sách tiền tệ phải tiếp tục kiểm soát lạm phát và giữ ổn định tỷ giá.
Ở góc nhìn khác, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Đinh Trọng Thịnh cho rằng giảm lãi suất không phải giải pháp duy nhất tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Khi đơn hàng thiếu hụt, chi phí đầu vào cao và sức mua yếu, việc giảm chi phí vay vốn mới chỉ giải quyết được một phần bài toán.
Nếu hàng hóa khó tiêu thụ, dòng tiền không quay vòng, doanh nghiệp vẫn có thể gặp khó khăn trong trả nợ dù lãi suất đã giảm.
Theo ông Thịnh, Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục sử dụng linh hoạt các công cụ điều hành tiền tệ, hỗ trợ thanh khoản để tạo điều kiện giảm chi phí vốn bền vững. Các ngân hàng thương mại cũng cần cân bằng giữa quản trị rủi ro và nhu cầu vốn, xem xét toàn diện dòng tiền, hợp đồng đầu ra và khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Lê Như Thạch, Phó Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (HUBA), cho rằng để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần lượng vốn đầu tư lớn, trong khi nguồn vốn trung và dài hạn còn hạn chế. Việc phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng không chỉ gây áp lực lên hệ thống tài chính mà còn khiến doanh nghiệp gặp khó khăn khi lãi suất cao và điều kiện vay khắt khe.
Từ đó, ông Thạch kiến nghị đa dạng hóa nguồn vốn thông qua phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu, quỹ đầu tư hạ tầng, huy động vốn quốc tế và thúc đẩy hợp tác công-tư, đồng thời cần đơn giản hóa thủ tục tín dụng, tăng cường bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, ưu tiên nguồn vốn cho các dự án hiệu quả, hạ tầng chiến lược, đổi mới công nghệ và sản xuất có giá trị gia tăng cao.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng cần minh bạch báo cáo tài chính, xây dựng kế hoạch dòng tiền và phương án trả nợ, đồng thời sử dụng vốn đúng mục đích, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Có thể thấy, việc đồng loạt giảm lãi suất đang tạo tín hiệu tích cực đối với thị trường. Tuy nhiên, hiệu quả chính sách không chỉ được đo bằng số lượng ngân hàng tham gia hay mức giảm lãi suất niêm yết, mà quan trọng hơn là số doanh nghiệp thực sự tiếp cận được vốn, chi phí tài chính được tiết giảm và khả năng duy trì, mở rộng sản xuất./.
(Vietnam+)