Bỏ qua điều hướng
•

Ngành nhựa tìm động lực tăng trưởng từ nâng cấp chuỗi giá trị

Ngành nhựa tìm động lực tăng trưởng từ nâng cấp chuỗi giá trị
Nguồn ảnh: VnExpress

Với quy mô 34,3 tỷ USD năm 2025, hơn 6.000 doanh nghiệp nhựa đứng trước yêu cầu nâng cao giá trị sản phẩm, chuyển đổi xanh, hướng đến mục tiêu 1.140 tỷ USD trên toàn cầu năm 2035.

Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) công bố, toàn ngành hiện có hơn 6.000 doanh nghiệp, quy mô khoảng 34,3 tỷ USD năm 2025, tăng từ 31,4 tỷ USD năm trước. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa ước đạt 10 tỷ USD, với thị trường tại hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Đà tăng của ngành trong nước diễn ra cùng xu hướng chung của thế giới. Theo dự báo, thị trường nhựa toàn cầu sẽ tăng từ 667,16 tỷ USD năm 2025 lên 1.140 tỷ USD vào năm 2035, tốc độ tăng trưởng kép hàng năm đạt 5,06%. Động lực đến từ các đột phá công nghệ giúp nâng hiệu năng sản phẩm, mở rộng ứng dụng trong bao bì, xây dựng, ôtô, điện tử, y tế, cùng tiến bộ trong công nghệ tái chế và vật liệu sinh học.

Thị trường rộng cũng đồng nghĩa doanh nghiệp chịu sức ép cạnh tranh về giá, chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm. Ông Đinh Đức Thắng, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam, cho rằng câu chuyện của ngành không chỉ nằm ở phát triển sản xuất mà cần nâng cao giá trị vật liệu trong toàn bộ vòng đời. "Khi chất thải nhựa được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên có giá trị và được đưa trở lại chu trình sản xuất hiệu quả, chúng ta không chỉ giảm áp lực lên môi trường, mà sẽ tạo thêm giá trị kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành", ông nói.

Theo ông Thắng, nâng cấp chuỗi giá trị ngành nhựa là quá trình gia tăng giá trị ở nhiều khâu, từ thiết kế sản phẩm, lựa chọn nguyên liệu, cải tiến công nghệ sản xuất đến thu gom, tái chế và đưa vật liệu trở lại chu trình sản xuất. Quá trình này tập trung vào ba hướng chính: nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất, đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường và thị trường, đồng thời phát triển chuỗi tuần hoàn nhằm tiết kiệm tài nguyên, giảm thất thoát vật liệu. Để thực hiện, doanh nghiệp cần tăng cường liên kết giữa các khâu trong chuỗi, từ sản xuất đến thu hồi và tái chế sau sử dụng.

Ông Đinh Đức Thắng, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam chia sẻ về tiềm năng và thách thức của ngành. Ảnh: VPA

Ông Đinh Đức Thắng, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam chia sẻ về tiềm năng và thách thức của ngành. Ảnh: VPA

Trong trụ cột phát triển chuỗi tuần hoàn, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) là một trong những cơ chế có vai trò thúc đẩy thu hồi và tái chế sản phẩm. Theo ông Thắng, EPR gắn trách nhiệm tổ chức thu gom, tái chế và xử lý sản phẩm sau sử dụng với doanh nghiệp, đồng thời đòi hỏi sự phối hợp giữa nhà sản xuất, đơn vị thu gom, cơ sở tái chế và người tiêu dùng. Cơ chế này cũng tạo tác động ngược đến khâu chọn nguyên liệu, thiết kế bao bì, đầu tư công nghệ và xây dựng hệ thống thu hồi, qua đó góp phần đưa vật liệu trở lại sản xuất.

Một ví dụ về tổ chức chuỗi thu gom, tái chế là Duy Tân Recycling với mô hình Bottle-to-Bottle, tái chế chai PET đã qua sử dụng thành hạt nhựa rPET để sản xuất chai mới. Theo Cục Môi trường, doanh nghiệp có hơn 100 trạm thu gom vệ tinh, hợp tác với gần 3.000 đối tác thu gom trên toàn quốc, lượng nhựa thu gom mỗi ngày lên đến 200 tấn. Nhà máy có công suất thiết kế 100.000 tấn mỗi năm.

Tuy nhiên, thu gom và tái chế mới là một phần của chuỗi tuần hoàn. Để vật liệu tái sinh có thể quay lại sản xuất, chất lượng nguyên liệu đầu vào cũng cần được kiểm soát, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của từng ứng dụng. Năm 2025, Việt Nam công bố TCVN 14399:2025 về chất dẻo PET tái chế, quy định các yêu cầu kỹ thuật đối với vật liệu này. Tiêu chuẩn tạo cơ sở tham chiếu để các bên thống nhất yêu cầu chất lượng, hỗ trợ quá trình sản xuất và sử dụng nguyên liệu tái chế.

Bên cạnh yêu cầu kỹ thuật, doanh nghiệp còn phải tính đến quy định tại các thị trường xuất khẩu. Với ngành bao bì, Quy định về bao bì và chất thải bao bì của Liên minh châu Âu (PPWR) bắt đầu áp dụng từ ngày 12/8/2026. Quy định đặt ra khuôn khổ chung đối với vòng đời bao bì, từ thiết kế, thành phần vật liệu đến khả năng tái sử dụng, thu gom và tái chế. Một số yêu cầu về khả năng tái chế và tỷ lệ nhựa tái chế sẽ được triển khai theo lộ trình, trong đó có các mốc từ năm 2030.

Bên trong một nhà máy nhựa tái chế. Ảnh: VPA

Bên trong một nhà máy nhựa tái chế. Ảnh: VPA

Với doanh nghiệp nhựa Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng quốc tế, những yêu cầu này khiến việc lựa chọn vật liệu và thiết kế bao bì cần được tính toán ngay từ đầu. Sản phẩm vừa phải bảo đảm chức năng bảo quản, an toàn và chất lượng, vừa đáp ứng yêu cầu về thành phần vật liệu, khả năng tái chế và hồ sơ tuân thủ của thị trường nhập khẩu. Điều này đòi hỏi nhà sản xuất bao bì, doanh nghiệp sở hữu thương hiệu và đơn vị tái chế phối hợp chặt chẽ hơn.

Theo VPA, ngành cần tiếp tục cải tiến thiết kế, tiết kiệm tài nguyên, tăng sử dụng nguyên liệu tái chế và nâng cao hiệu quả thu gom, xử lý. Hiệp hội cũng đóng vai trò kết nối doanh nghiệp, cung cấp thông tin thị trường và phản ánh vướng mắc chính sách để hỗ trợ hội viên thích ứng với các yêu cầu mới.

Với nền tảng sản xuất và thị trường xuất khẩu hiện có, bài toán của ngành nhựa Việt Nam là chuyển lợi thế quy mô thành năng lực cạnh tranh dài hạn. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp đồng thời nâng cao giá trị sản phẩm, chuẩn hóa chất lượng, cải tiến công nghệ và quản lý hiệu quả vòng đời vật liệu.

Thái Anh

Ngành nhựa Việt Nam ghi nhận đà tăng trưởng ấn tượng với hơn 6.000 doanh nghiệp, quy mô năm 2025 ước đạt 34,3 tỷ USD và kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 10 tỷ USD tại hơn 190 thị trường. Sự bứt phá này gắn liền với xu hướng mở rộng của thị trường toàn cầu, dự kiến cán mốc 1.140 tỷ USD vào năm 2035 nhờ ứng dụng sâu rộng trong bao bì, xây dựng, y tế và tiến bộ công nghệ vật liệu. Dù vậy, quy mô mở rộng cũng đặt các doanh nghiệp nội địa trước áp lực cạnh tranh khốc liệt về tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm và giá thành. Trước bối cảnh đó, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam Đinh Đức Thắng nhận định bài toán trọng tâm hiện nay là nâng cao giá trị vật liệu trong toàn bộ vòng đời thay vì chỉ mở rộng sản xuất đơn thuần. Chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị tập trung vào ba định hướng chính gồm tối ưu hóa hiệu quả sản xuất, chuẩn hóa tiêu chuẩn môi trường và kiến tạo mô hình tuần hoàn khép kín. Việc liên kết chặt chẽ từ khâu thiết kế, lựa chọn nguyên liệu đến thu gom và xử lý sau sử dụng sẽ biến rác thải nhựa thành nguồn tài nguyên giá trị, giảm thiểu tác động sinh thái và nâng tầm vị thế cạnh tranh. Cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đang đóng vai trò then chốt khi buộc doanh nghiệp phải chủ động phối hợp cùng các đơn vị thu gom, cơ sở tái chế và người tiêu dùng. Điển hình như Duy Tân Recycling với mô hình Bottle-to-Bottle, sở hữu mạng lưới hơn 100 trạm thu gom vệ tinh cùng gần 3.000 đối tác để thu hồi 200 tấn nhựa mỗi ngày phục vụ nhà máy công suất 100.000 tấn mỗi năm. Song song với việc mở rộng hạ tầng thu hồi, việc kiểm soát nghiêm ngặt chất lượng nguyên liệu đầu vào chính là điều kiện tiên quyết để dòng vật liệu tái sinh đáp ứng chuẩn kỹ thuật và quay trở lại chu trình sản xuất hiệu quả.
amung