Bỏ qua điều hướng
•

Ngành than tăng tốc tiến độ các dự án chiến lược

Ngành than tăng tốc tiến độ các dự án chiến lược
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Trong giai đoạn 2026-2030, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam xác định tập trung tái cơ cấu các đơn vị, đồng thời đầu tư đồng bộ các dự án chiến lược về khai thác, sàng tuyển, chế biến than và hạ tầng logistics,... Than Hòn Gai gắn biển công trình chào mừng kỷ niệm 90 năm Ngày Truyền thốn...

Đây là những giải pháp cốt lõi nhằm duy trì năng lực sản xuất của ngành than, đáp ứng đủ than cho nền kinh tế, tăng thu ngân sách và thúc đẩy tăng trưởng, đưa Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam trở thành tập đoàn công nghiệp-năng lượng-vật liệu hiện đại, giữ vai trò nòng cốt, tiên phong, dẫn dắt đối với nền công nghiệp khai khoáng và an ninh năng lượng.

Ưu tiên các dự án khai thác than trọng điểm

Trong giai đoạn 2026-2030, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa, chuyển đổi số, hướng tới xây dựng mỏ thông minh, nhà máy thông minh; đồng thời phát triển năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ. Theo kế hoạch chuyển đổi số, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam tập trung chuẩn hóa dữ liệu, phát triển kho dữ liệu lớn, mở rộng ứng dụng hệ thống báo cáo thông minh (BI), trí tuệ nhân tạo (AI) và các công cụ phân tích, dự báo phục vụ quản trị, điều hành. Các hệ thống lõi như ERP, MES, Smart Mine, Smart Plant sẽ được triển khai đồng bộ hơn, gắn với đầu tư hạ tầng điện toán đám mây, bảo đảm an toàn thông tin và phát triển nhân lực số,…

Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam định hướng đầu tư bổ sung các dự án mỏ, duy trì sản lượng than sạch sản xuất trong nước khoảng 40 triệu tấn/năm, kết hợp nhập khẩu 10-20 triệu tấn/năm để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ. Trong đó, bảo đảm đủ than cho các nhà máy nhiệt điện là nhiệm vụ quan trọng, góp phần duy trì vận hành hệ thống điện và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Vì vậy, bên cạnh việc duy trì sản lượng khai thác, Tập đoàn cũng chú trọng nâng cao năng lực chế biến, pha trộn, điều phối và cung ứng than phù hợp với nhu cầu thị trường.

Đến năm 2030, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam tiếp tục triển khai 18 dự án khai thác than trên địa bàn Quảng Ninh, trong đó, có 13 dự án đang thực hiện đầu tư và 5 dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Trong số này, nhiều dự án có quy mô lớn, giữ vai trò quan trọng đối với kế hoạch sản xuất của Tập đoàn, như dự án khai thác hầm lò mỏ Khe Chàm II-IV, công suất thiết kế 3,5 triệu tấn than/năm, dự kiến kết thúc đầu tư xây dựng cơ bản trong năm 2026; dự án cải tạo, mở rộng, nâng công suất mỏ than Cao Sơn hướng tới mức 4,5 triệu tấn/năm, dự kiến hoàn thành xây dựng cơ bản năm 2027,…

Hạ tầng logistics cũng được coi là mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất, tiêu thụ than. Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam dự kiến triển khai 6 dự án hạ tầng cảng, kho và 6 dự án băng tải, từng bước hoàn thiện mạng lưới vận chuyển, tập kết than. Khi được đầu tư đồng bộ, hệ thống này sẽ nâng cao năng lực tiếp nhận, điều phối và cung ứng, đồng thời giảm áp lực vận tải đường bộ, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả vận hành.

tham-hoi-dong-vien-cong-nhan-dang-truc-tiep-lam-viec-tai-lo-cho-iv.jpg
Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam Ngô Hoàng Ngân động viên thợ mỏ tại lò chợ cơ giới hóa hạng trung IV-9-46, khai trường mỏ Khe Chàm II-IV, Công ty Than Hạ Long. (Ảnh: NGHĨA NAM)

Mới đây, kiểm tra sản xuất tại lò chợ cơ giới hóa hạng trung IV-9-46, khai trường mỏ Khe Chàm II-IV (Công ty Than Hạ Long), Chủ tịch Hội đồng thành Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam Ngô Hoàng Ngân đã yêu cầu đơn vị đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm, đặc biệt là dự án khai thác hầm lò mỏ Khe Chàm II-IV, bảo đảm các dự án nhanh chóng phát huy hiệu quả đầu tư. Lò chợ IV-9-46 là một trong hai lò chợ cơ giới hóa được Than Hạ Long đưa vào sản xuất trong năm 2026, cùng với lò chợ cơ giới hóa hạng nhẹ IV-9-17. Việc đưa các lò chợ cơ giới hóa vào sản xuất góp phần nâng cao năng lực khai thác, năng suất lao động trong khai thác than hầm lò của công ty.

Bứt phá mạnh mẽ

Bước vào giai đoạn phát triển mới, các đơn vị khai thác than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam đã và đang tạo nên những bứt phá mạnh mẽ trong sản xuất kinh doanh. Lấy cơ giới hóa làm mũi nhọn giải phóng sức lao động và chuyển đổi số làm xương sống trong quản trị điều hành, các đơn vị đã và đang xây dựng thành công mô hình mỏ hiện đại, an toàn và phát triển bền vững.

ht3-2771.jpg
Sản xuất than lộ thiên trên khai trường mỏ Than Hà Tu. (Ảnh: NGHĨA NAM)

Đối với mỏ hầm lò, khâu đào lò luôn đóng vai trò quyết định trong công tác chuẩn bị diện sản xuất và duy trì sự phát triển ổn định, lâu dài. Tại Công ty Than Thống Nhất, ban lãnh đạo công ty đã tập trung đẩy mạnh cơ giới hóa khâu đào lò, triển khai dự án đầu tư hệ thống cơ giới hóa đào lò gồm 1 máy đào lò combain mã hiệu EBH45 và 1 cầu chuyển tải DZQ80/35/22. Đây là thiết bị cơ giới hóa đào lò đồng bộ đầu tiên được đưa vào sử dụng tại đơn vị. Từ tháng 9 vừa qua, hệ thống đã chính thức đưa vào vận hành, giúp cải thiện vượt bậc tốc độ đào lò, tạo nền tảng vững chắc để Than Thống Nhất tiếp tục rà soát, ứng dụng cơ giới hóa vào các khâu sản xuất còn lại.

Giám đốc Công ty Vương Minh Thu cho biết, xác định chuyển đổi số là yếu tố cốt lõi để khâu điều hành, kết nối được thực hiện đồng bộ trong mọi hoạt động, công ty đã đầu tư xây dựng Trung tâm điều hành sản xuất tập trung, “trái tim” của mỏ, với hơn 100 camera quan sát kết nối từ mặt bằng xuống sâu dưới mỏ, truyền hình ảnh trực tiếp theo thời gian thực về phòng điều khiển. Lãnh đạo đơn vị có thể nắm bắt chính xác mọi diễn biến tại hiện trường, đưa ra quyết định xử lý các tình huống phát sinh nhanh chóng, kịp thời, tối ưu hóa sản xuất và bảo đảm an toàn cho công nhân. Điều quan trọng hơn cả chính là sự thay đổi tư duy của đội ngũ cán bộ, công nhân đơn vị, từng bước làm chủ công nghệ và đóng góp nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật giá trị.

Tại buổi làm việc với Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam cuối tháng 7 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu định vị tập đoàn thành tập đoàn công nghiệp năng lượng, vật liệu hiện đại; tái cơ cấu một cách thực chất, tập trung nguồn lực cho lĩnh vực cốt lõi, dự án trọng điểm, nâng cao năng lực công nghệ và hiệu quả sử dụng vốn. Trên nền công nghiệp trung tâm là sản xuất than, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam xác định tiếp tục đổi mới công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số.

Với lĩnh vực than, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam đặt trọng tâm điều hành bảo đảm thông suốt từ thăm dò, chuẩn bị tài nguyên, đào lò, khai thác đến sàng tuyển, vận tải và tiêu thụ, kết hợp hợp lý giữa nguồn than trong nước với nhập khẩu, pha trộn và dự trữ. Kế hoạch sản xuất than được xây dựng bám sát nhu cầu khách hàng, nhất là cung ứng cho điện, đồng thời chủ động phương án khi thị trường biến động.

tieu-thu-than-7658.jpg
Bốc xúc than đưa đi tiêu thụ tại Công ty Tuyển than Cửa Ông. (Ảnh: NGHĨA NAM)

Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam Vũ Anh Tuấn nhấn mạnh: Bằng những bước đi vững chắc, đến năm 2030, tập đoàn củng cố năng lực cung ứng than, tạo bước tiến xa trong chế biến sâu khoáng sản và quản trị doanh nghiệp; tích lũy năng lực tài chính, công nghệ, nguồn nhân lực và thị trường để hướng tới mục tiêu đến năm 2045, trở thành tập đoàn kinh tế quy mô lớn trong khu vực Đông Nam Á. Tầm vóc ấy cần được xây dựng bằng khả năng làm chủ công nghệ, cung cấp sản phẩm có giá trị cao và tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất công nghiệp.

Với di sản tinh thần quý giá là truyền thống "Kỷ luật và đồng tâm", thế hệ hôm nay của Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam sẽ kế thừa bản lĩnh cha anh, đổi mới tư duy và phương thức hành động để đáp ứng mạnh mẽ yêu cầu phát triển của đất nước.

NGỌC LÂN

Trong giai đoạn 2026-2030, Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam tập trung đẩy mạnh tái cơ cấu và tăng tốc các dự án khai thác trọng điểm nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Mục tiêu xuyên suốt là duy trì sản lượng than sạch nội địa khoảng 40 triệu tấn mỗi năm, đồng thời nhập khẩu bổ sung từ 10 đến 20 triệu tấn để đáp ứng nhu cầu nền kinh tế, đặc biệt là nguồn nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện. Tại địa bàn Quảng Ninh, đơn vị tiếp tục triển khai 18 dự án mỏ than, bao gồm 13 dự án đang thi công và 5 dự án chuẩn bị đầu tư. Trọng tâm là dự án hầm lò Khe Chàm II-IV công suất 3,5 triệu tấn mỗi năm dự kiến về đích xây dựng cơ bản vào năm 2026, cùng dự án nâng công suất mỏ than Cao Sơn lên 4,5 triệu tấn mỗi năm vào năm 2027. Việc đưa các mỏ quy mô lớn vào vận hành đúng hạn giữ vai trò quyết định đối với năng lực cung ứng dài hạn của tập đoàn. Song song với khai thác, hạ tầng logistics được hoàn thiện đồng bộ thông qua 6 dự án cảng, kho bãi và 6 hệ thống băng tải chuyên dụng. Mạng lưới vận chuyển liên hoàn này giúp tối ưu hóa khâu tiếp nhận, điều phối, giảm tải áp lực giao thông đường bộ và tiết giảm chi phí sản xuất. Toàn bộ chuỗi vận hành được nâng đỡ bởi tiến trình cơ giới hóa, tự động hóa và ứng dụng các nền tảng số cốt lõi như ERP, MES để xây dựng mô hình mỏ thông minh hiện đại.
amung