Bỏ qua điều hướng
•

Ngày 'trở về' của hai anh em liệt sĩ sau gần nửa thế kỷ nằm lại nghĩa trang phía Nam

Ngày 'trở về' của hai anh em liệt sĩ sau gần nửa thế kỷ nằm lại nghĩa trang phía Nam
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Sau gần nửa thế kỷ nằm lại tại nghĩa trang ở các tỉnh phía Nam, hai anh em liệt sĩ đã được đưa về quê hương an táng theo tâm nguyện của gia đình.

Ngày 'trở về' của hai anh em liệt sĩ sau gần nửa thế kỷ nằm lại nghĩa trang phía Nam - Ảnh 2.

Đông đảo người dân, cựu chiến binh xã Đức Đồng tham dự lễ an táng hài cốt liệt sĩ Võ Thanh Cương và liệt sĩ Võ Huy Hạnh - Ảnh: LÊ MINH

Hai anh em ruột lần lượt nhập ngũ, hy sinh khi tuổi còn rất trẻ

Những ngày đầu tháng 10-2026, hàng trăm người dân xã Đức Đồng (Hà Tĩnh) sắp xếp thời gian, công việc, cùng nhau về Nghĩa trang liệt sĩ xã Đức Thọ để dự lễ đón nhận, truy điệu và an táng hai hài cốt liệt sĩ Võ Thanh Cương và Võ Huy Hạnh, sau gần 50 năm yên nghỉ tại nghĩa trang các tỉnh phía Nam.

Liệt sĩ Võ Thanh Cương (sinh năm 1951) và liệt sĩ Võ Huy Hạnh (sinh năm 1957) là hai anh em ruột, sinh ra trong một gia đình có ba anh em trai tại xã Đức Lạng (huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh), nay là thôn Đức Lạng (xã Đức Đồng, Hà Tĩnh).

Bố của hai liệt sĩ là ông Võ Hiệu từng tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, còn mẹ là bà Nguyễn Thị Sum - cán bộ hội phụ nữ ở địa phương.

Được sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, các anh đã sớm hun đúc tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm với Tổ quốc.

Tháng 8-1969, Võ Thanh Cương khi đang học lớp 10 đã theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, "xếp bút nghiên" tình nguyện lên đường nhập ngũ, tham gia chiến đấu tại chiến trường Lào và sau đó làm nhiệm vụ tại biên giới Tây Nam.

Tháng 1-1978, khi mới 27 tuổi, người chiến sĩ trẻ đã anh dũng hy sinh tại tỉnh Tây Ninh. Sau đó, hài cốt liệt sĩ được an táng tại Nghĩa trang quốc tế đồi 82, tỉnh Tây Ninh.

Tháng 8-1976, người thanh niên Võ Huy Hạnh tiếp bước của người anh cả lên đường nhập ngũ và được điều động thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chiến đấu gần biên giới với Thái Lan, anh bị thương, được đưa về bệnh xá của đơn vị cứu chữa, song vết thương quá nặng, liệt sĩ Võ Huy Hạnh đã anh dũng hy sinh vào tháng 4-1979 khi mới 22 tuổi. 

Sau đó, hài cốt liệt sĩ được an táng, quy tập về Nghĩa trang thành phố Đồng Nai.

Ngày 'trở về' của hai anh em liệt sĩ sau gần nửa thế kỷ nằm lại nghĩa trang phía Nam - Ảnh 3.

Hài cốt liệt sĩ Võ Thanh Cương và liệt sĩ Võ Huy Hạnh được an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Đức Thọ sau gần 50 năm nằm lại tại nghĩa trang các tỉnh phía Nam - Ảnh: LÊ MINH


Đưa các anh về nơi đã sinh ra và trưởng thành

Ông Võ Đình Chiến (em trai của hai liệt sĩ) cho biết gần nửa thế kỷ qua hai anh trai của ông được an táng tại các nghĩa trang phía Nam và các phần mộ được chăm sóc rất chu đáo. Tuy nhiên, hàng chục năm qua gia đình, dòng họ luôn mang nỗi thương nhớ các anh. 

Theo nguyện vọng của gia đình cũng như ước nguyện của bố mẹ hai liệt sĩ lúc còn sống luôn muốn đưa hài cốt các anh về an nghỉ tại quê nhà, bởi đây là nơi chôn rau cắt rốn, nơi cha mẹ đã nuôi các anh khôn lớn, trưởng thành.

"Nắm bắt được nguyện vọng của gia đình, chính quyền địa phương và cơ quan chức năng đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tình chúng tôi để ngày hôm nay đưa được hài cốt hai liệt sĩ trở về quê hương, thỏa lòng mong mỏi của gia đình, dòng họ bấy lâu" - ông Chiến cho hay.

Tại lễ truy điệu và an táng hài cốt hai liệt sĩ, đại diện UBND xã Đức Đồng cho biết trong cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ vì độc lập, tự do của Tổ quốc và nghĩa vụ quốc tế cao cả, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã cống hiến tuổi thanh xuân, anh dũng chiến đấu và hy sinh trên khắp các chiến trường. Trong đó có liệt sĩ Võ Thanh Cương và liệt sĩ Võ Huy Hạnh.

"Liệt sĩ Võ Thanh Cương và liệt sĩ Võ Huy Hạnh là những người con kiên trung của quê hương xã Đức Đồng, hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng những đóng góp của các anh vô cùng lớn lao. Các anh đã dành những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời để cống hiến cho Tổ quốc.

Sau gần 50 năm hy sinh trên chiến trường, hôm nay các anh trở về trong vòng tay yêu thương của quê hương để yên nghỉ vĩnh hằng trong lòng đất mẹ. Tên tuổi và sự hy sinh anh dũng của các anh sẽ mãi mãi được gia đình, dòng họ và quê hương ghi nhớ".

"Lễ đón nhận và an táng hài cốt liệt sĩ Võ Thanh Cương và liệt sĩ Võ Huy Hạnh thể hiện sự trân trọng, biết ơn của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. 

Đây cũng là sự tiếp nối đạo lý "uống nước nhớ nguồn", góp phần thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo đời sống tinh thần đối với thân nhân các gia đình liệt sĩ" - đại diện UBND xã Đức Đồng cho biết thêm.

Ngày 'trở về' của hai anh em liệt sĩ sau gần nửa thế kỷ nằm lại ở các nghĩa trang phía Nam - Ảnh 3.Gia đình tìm nơi an táng liệt sĩ Nguyễn Tình - đại đội 53, tiểu đoàn 95, trung đoàn 2, sư đoàn 3 Sao Vàng, QK5

Liệt sĩ Nguyễn Tình sinh năm 1941, quê quán: Phổ Thạnh, Đức Phổ, Quảng Ngãi (nay là phường Sa Huỳnh, Quảng Ngãi).

Đầu tháng 10 năm 2026, chính quyền và đông đảo người dân xã Đức Đồng, tỉnh Hà Tĩnh đã trang trọng tổ chức lễ đón nhận, truy điệu và an táng hài cốt hai anh em ruột là liệt sĩ Võ Thanh Cương và liệt sĩ Võ Huy Hạnh. Sau gần nửa thế kỷ an nghỉ tại nghĩa trang các tỉnh phía Nam, hai người con ưu tú của quê hương đã được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ địa phương theo đúng tâm nguyện của gia đình. Sinh ra trong gia đình giàu truyền thống cách mạng, hai anh em lần lượt lên đường nhập ngũ và cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cùng nghĩa vụ quốc tế. Liệt sĩ Võ Thanh Cương tham gia chiến đấu tại chiến trường Lào, biên giới Tây Nam rồi hy sinh năm 1978 ở tuổi 27 tại Tây Ninh, trong khi người em Võ Huy Hạnh ngã xuống vào năm 1979 tại Campuchia khi mới bước sang tuổi 22. Suốt nhiều thập kỷ, phần mộ của hai liệt sĩ được an táng chu đáo tại Tây Ninh và Đồng Nai nhưng nỗi khắc khoải đón các anh về lại nơi chôn rau cắt rốn vẫn luôn canh cánh trong lòng người thân. Nhờ sự hỗ trợ tận tình từ các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương, hành trình đưa hài cốt hai anh em về đất mẹ đã hoàn thành trọn vẹn, thể hiện sâu sắc đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc.
amung