Khối u xâm lấn nhiều cơ quan, gây tắc ruột
Một cơ sở y tế tại Hà Nội vừa điều trị cho bệnh nhân V.T.T. (68 tuổi, ở Quảng Ninh) mắc ung thư túi tinh tái phát, xâm lấn nhiều cơ quan trong vùng tiểu khung.
Người bệnh có tiền sử đái tháo đường nhiều năm và bệnh vảy nến, được chẩn đoán ung thư túi tinh, phẫu thuật từ năm 2021. Khoảng 6 tháng trước khi nhập viện lần này, bệnh tái phát.
Bệnh nhân đang được điều trị (Ảnh: Bác sĩ cung cấp).
Khối u xâm lấn bàng quang, trực tràng, các quai ruột và lan tới thành bụng. Theo thông tin từ bệnh viện, trong lần phẫu thuật trước đó tại một cơ sở y tế khác, tổn thương phức tạp khiến ê-kíp không thể can thiệp vào khối u.
Tình trạng tắc ruột khiến ông phải làm hậu môn nhân tạo. Khối u xâm lấn bàng quang gây tiểu rắt liên tục, có thời điểm khoảng 30 phút một lần. Người bệnh thường xuyên mất ngủ, phải dùng thuốc giảm đau hằng ngày. Đường rò từ khối u ra thành bụng liên tục chảy dịch, ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt.
Chuyên gia cho biết, ung thư nguyên phát tại túi tinh là bệnh rất hiếm gặp. Y văn thế giới ghi nhận khoảng 100 trường hợp qua các báo cáo riêng lẻ.
Túi tinh nằm sau bàng quang, sát tuyến tiền liệt, có chức năng tiết dịch góp phần tạo nên tinh dịch. Do nằm sâu trong tiểu khung, gần nhiều cơ quan, khối u tại đây có thể tiến triển âm thầm và xâm lấn các tổ chức lân cận trước khi được phát hiện.
Dữ liệu về bệnh còn hạn chế, chưa có hướng dẫn điều trị chuẩn hóa. Việc lựa chọn phương án điều trị cần dựa trên tình trạng cụ thể của người bệnh và tham khảo những trường hợp đã được công bố.
Thu nhỏ khối u để đánh giá lại khả năng phẫu thuật
Tại bệnh viện, các bác sĩ hội chẩn đa chuyên khoa, đánh giá tổn thương trên hình ảnh PET-CT và tham khảo các ca bệnh tương tự. Kết quả cho thấy khối u kích thước khoảng 12cm, chiếm gần trọn vùng tiểu khung, xâm lấn nhiều cơ quan và tạo đường rò ra thành bụng.
Ê-kíp quyết định phối hợp xạ trị thích ứng với hóa trị hằng tuần nhằm thu nhỏ khối u, kiểm soát triệu chứng, sau đó đánh giá lại khả năng phẫu thuật.
Kết quả chụp PET/CT của bệnh nhân (Ảnh: Bác sĩ cung cấp).
Theo bác sĩ, việc xạ trị tại vùng tiểu khung đặt ra nhiều thách thức. Kích thước bàng quang thay đổi theo lượng nước tiểu, các quai ruột dịch chuyển, trong khi khối u cũng có thể nhỏ dần trong quá trình điều trị.
Với xạ trị thích ứng, hình ảnh tại thời điểm điều trị được đối chiếu với kế hoạch ban đầu để điều chỉnh khi cần thiết. Mục tiêu là bảo đảm tia xạ tập trung vào vùng tổn thương, đồng thời hạn chế ảnh hưởng đến các cơ quan lành xung quanh. Hóa trị được phối hợp nhằm tăng mức độ nhạy cảm của tế bào ung thư với tia xạ.
Sau các mốc 10 và 20 buổi xạ trị, khối u thu nhỏ, đường rò trên thành bụng khô dần và ngừng chảy dịch. Ê-kíp tiếp tục điều chỉnh kế hoạch xạ trị theo sự thay đổi của tổn thương.
Kết thúc 28 buổi xạ trị phối hợp hóa trị, kích thước khối u giảm từ khoảng 12cm xuống còn 3,9cm. Người bệnh không còn phải dùng thuốc giảm đau, ngủ tốt hơn và thể trạng dần cải thiện.
Hiện bệnh nhân tiếp tục hóa trị theo kế hoạch dự kiến gồm 6 đợt. Sau giai đoạn này, các bác sĩ sẽ đánh giá lại mức độ đáp ứng và khả năng phẫu thuật.
Kết quả thu nhỏ khối u và cải thiện triệu chứng là tín hiệu tích cực bước đầu. Tuy nhiên, người bệnh vẫn cần tiếp tục điều trị, theo dõi; khả năng phẫu thuật triệt căn chưa được xác định.