Bỏ qua điều hướng

Người "đẻ" ra robot

Người "đẻ" ra robot
Nguồn ảnh: KhoaHoc.tv

Phòng thí nghiệm Robot MARCS, trường Đại HọcTây Sydney đang tiến hành thí nghiệm “Robot con nuôi” với mục đích nghiên cứu sự tương tác giữa con người và Robot. Michael Fitzpatrick vừa được lên chức “cha” và như các cặp cha mẹ mới lên chức khác, anh rất hứng thú với “đứa con” của mình. Tuy nhiên, khô...

Phòng thí nghiệm Robot MARCS, trường Đại HọcTây Sydney đang tiến hành thí nghiệm “Robot con nuôi” với mục đích nghiên cứu sự tương tác giữa con người và Robot.

Michael Fitzpatrick vừa được lên chức “cha” và như các cặp cha mẹ mới lên chức khác, anh rất hứng thú với “đứa con” của mình.

Tuy nhiên, không giống những đứa trẻ khác, “con“ của Fitzpatrick di chuyển bằng các bánh xe, sử dụng ắc quy và tất nhiên không thể thiếu một quyển sổ tay hướng dẫn “người sử dụng”.

Robot ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống con người. (Ảnh: Steve Christo)
Robot ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống con người. (Ảnh: Steve Christo)

Anh và “con” là một phần của thử nghiệm “robot con nuôi” với mục đích là giúp cho người sở hữu robot qua quá trình sử dụng có thể đưa ra các chức năng và kỹ năng mà họ muốn rô bốt có thể thực hiện được.

Cũng giống như những đứa trẻ mới được sinh ra, robot “con” của Fitzpatrick mới có một vài kỹ năng như di chuyển trên sàn và thay đổi hướng khi gặp vật cản.

Các nhà nghiên cứu sau đó sẽ thiết kế thêm các bộ phận như các cảm biến và phần cứng để lập trình cho robot thực hiện thêm các chức năng mà người sử dụng mong muốn. Thậm chí là robot có thể nhận diện được người sở hữu nó, đi theo họ và có thể nói.

Robot sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người và qua thử nghiệm này, các nhà khoa học cũng muốn thấy liệu những người “cha” như Fitzpatrick có thiện cảm với các “con” robot sau quá trình 6 tháng thử nghiệm như thế nào.

Tại Phòng thí nghiệm Robot MARCS thuộc Trường Đại học Tây Sydney, các nhà khoa học đang thực hiện một thử nghiệm đặc biệt mang tên “Robot con nuôi”. Mục tiêu của chương trình là tìm hiểu cách con người tương tác với robot, đồng thời quan sát quá trình hình thành mối quan hệ giữa người sử dụng và một cỗ máy thông minh. Trong thí nghiệm này, Michael Fitzpatrick vừa nhận một “đứa con”, dù thành viên mới trong gia đình anh không khóc, không ăn uống và cũng chẳng cần những món đồ chơi thông thường. “Đứa con” của Fitzpatrick di chuyển bằng bánh xe, vận hành nhờ ắc quy và luôn đi kèm một quyển sổ tay hướng dẫn dành cho người sử dụng. Hình ảnh ấy tạo nên sự tương phản thú vị giữa cách gọi thân mật như “cha”, “con” với bản chất kỹ thuật của một robot nghiên cứu. Tuy vậy, sự khác biệt ấy không làm giảm ý nghĩa thử nghiệm, bởi robot đang ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong các hoạt động gắn liền với đời sống con người. Fitzpatrick cùng robot của mình là một phần trong chương trình được thiết kế để lắng nghe mong muốn thực tế từ những người sở hữu robot. Thông qua thời gian sử dụng, người tham gia có thể chỉ ra những chức năng, kỹ năng hoặc cách hỗ trợ mà họ mong muốn robot thực hiện trong tương lai. Các nhà nghiên cứu dựa trên những phản hồi đó để từng bước điều chỉnh thiết kế, bổ sung phần cứng và xây dựng chương trình phù hợp hơn. Ở giai đoạn đầu, robot “con” của Fitzpatrick mới chỉ sở hữu một số khả năng cơ bản, tương tự một đứa trẻ vừa bắt đầu khám phá môi trường xung quanh. Nó có thể di chuyển trên sàn, đồng thời thay đổi hướng khi phát hiện vật cản phía trước trong quá trình vận hành. Những kỹ năng đơn giản này chưa tạo nên một robot toàn năng, nhưng lại cung cấp nền tảng cần thiết để các nhà nghiên cứu phát triển những chức năng phức tạp hơn. Sau đó, nhóm nghiên cứu sẽ thiết kế và lắp thêm nhiều bộ phận, trong đó có các cảm biến cùng những thành phần phần cứng cần thiết cho quá trình mở rộng năng lực. Robot cũng sẽ được lập trình để đáp ứng các yêu cầu do người sử dụng đưa ra, thay vì chỉ hoạt động theo một cấu hình cố định ngay từ đầu. Cách phát triển này giúp công nghệ bám sát nhu cầu đời sống, đồng thời cho phép con người tham gia trực tiếp vào quá trình định hình robot. Trong tương lai của thử nghiệm, robot có thể được bổ sung khả năng nhận diện người sở hữu, đi theo họ trong những tình huống phù hợp và phát ra lời nói. Những chức năng ấy sẽ khiến robot gần gũi hơn với người dùng, bởi nó không còn chỉ là thiết bị di chuyển trong không gian. Tuy nhiên, bài toán quan trọng vẫn nằm ở việc con người cảm nhận robot như thế nào sau một thời gian chung sống và sử dụng thường xuyên. Thử nghiệm kéo dài sáu tháng, đủ lâu để Fitzpatrick và những người tham gia có cơ hội quan sát robot qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Các nhà khoa học muốn biết liệu những “người cha” như Fitzpatrick có trở nên yêu thích, gắn bó hoặc có thiện cảm hơn với “đứa con” robot của mình hay không. Kết quả quan sát cũng có thể cho thấy những yếu tố nào khiến người sử dụng chấp nhận robot, tin tưởng robot và sẵn sàng đưa robot vào các hoạt động hằng ngày. Đằng sau cách gọi giàu hình ảnh về một người “đẻ” ra robot là câu hỏi nghiêm túc về tương lai chung giữa con người và máy móc. Robot không tự nhiên trở nên hữu ích, bởi năng lực của chúng còn phụ thuộc vào thiết kế, cảm biến, phần cứng, chương trình và nhu cầu cụ thể từ người dùng. Với thử nghiệm “Robot con nuôi”, Phòng thí nghiệm Robot MARCS đang tìm cách biến quá trình phát triển robot thành một mối quan hệ hai chiều, nơi con người hướng dẫn, robot học hỏi và cả hai cùng thay đổi theo thời gian.