Bỏ qua điều hướng
•

Người thầy 2 tay giải 2 bài toán qua lời kể sinh viên Đà Lạt

Người thầy 2 tay giải 2 bài toán qua lời kể sinh viên Đà Lạt
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Câu chuyện "tài tử", lịch lãm bậc nhất của nhà toán học PGS.TS Nguyễn Hữu Đức được cựu sinh viên khoa toán Trường đại học Đà Lạt kể lại.

Người thầy 2 tay giải 2 bài toán qua lời kể sinh viên Đà Lạt - Ảnh 1.

PGS.TS Nguyễn Hữu Đức trong một lễ tốt nghiệp tại Trường đại học Đà Lạt - Ảnh: TRƯƠNG NGỌC THỤY

Dịp Trường đại học Đà Lạt kỷ niệm 50 năm (27-10-1976 - 27-10-2026), nhiều thế hệ sinh viên trở về Đà Lạt. Giữa những câu chuyện cũ, một cái tên được nhắc đi nhắc lại: PGS.TSKH Nguyễn Hữu Đức (1950 - 2007). Với lớp toán khóa 14 (1990 - 1994), ông còn sống với một hình ảnh rất riêng - người thầy đứng viết bảng bằng cả hai tay, mỗi tay một nội dung khác nhau.

Nhà toán học lịch lãm, thương sinh viên giữa thời khó khổ

Thời điểm đó, PGS.TSKH Nguyễn Hữu Đức là Hiệu phó kiêm Trưởng khoa toán Trường đại học Đà Lạt, trụ cột của nhóm nghiên cứu Lý thuyết kỳ dị đầu tiên ở Việt Nam. Ông dạy lớp toán khóa 14 hai môn giải tích và tô pô đại cương.

Tô pô, giải tích là những môn khô. Sinh viên ngồi hàng giờ với các đề toán trừu tượng, đầu óc dễ chùng xuống. Rồi thầy Đức quay lên bảng, cầm phấn cả hai tay.

Tay trái viết một nội dung, tay phải viết một nội dung khác, cùng một lúc. Có buổi hai tay chạy song song hai bài toán khác nhau, mỗi bên một lời giải, không bên nào chờ bên nào. Phấn chạy đều trên bảng, lớp im bặt rồi vỡ ra thích thú. Nhiều người kể họ như "bừng tỉnh", quên hẳn cái mệt của mấy giờ đồng hồ trước đó.

"Thỉnh thoảng trong giờ học thầy biểu diễn viết bảng bằng cả hai tay, mỗi tay một nội dung, có khi giải hai bài toán khác nhau cùng lúc, cả lớp rất thích thú", ông Trương Ngọc Thụy và ông Phan Linh Khánh, cựu sinh viên lớp toán khóa 14, kể lại.

Với lớp, đó không chỉ là một màn khéo tay. Nó cho thấy một cái đầu quen chạy nhiều mạch tư duy một lúc - thứ sinh viên toán nhìn vào là hiểu.

Với thầy Đức, phương pháp giải mới là cái gốc. Sinh viên làm không ra đáp số mà đi đúng phương pháp vẫn có điểm. Ông cũng hiếm khi cho thi lại, bởi dạy xong một môn là ông lại đi giảng ở nước ngoài, rất lâu mới trở về Đà Lạt.

Khi chấm bài gặp hai bài giống hệt nhau, ông nổi giận, nhưng bằng sự điềm đạm, chuẩn mực, thầy Đức chỉ khéo léo nhắc. "Chắc do tôi giải rồi nên các em biết, hoặc các em học chung một cuốn sách nên làm giống nhau", ông nói, theo lời cựu sinh viên. Cái tế nhị ấy, nhiều người nhớ mãi.

Thầy biết trò nghèo, lấy đâu ra tiền

Thời bao cấp, thầy cô thường ăn mặc xuề xòa. Thầy Đức thì khác. Hay đi dạy ở Pháp và Ý, ông mang về một phong cách riêng: lúc nào cũng veste, có hôm khoác áo ba đờ xuy, đội nón phớt lên lớp.

Vẻ ngoài ấy không dựng nên khoảng cách. Ông bình dân, gần gũi. Chiều tan học, ông hay rủ sinh viên nam chia phe đánh bóng chuyền, có hôm cả GS.TS Phạm Tiến Sơn - khi đó là giảng viên của lớp - cùng chơi. Phần thưởng cho đội thắng là một két bia Sài Gòn ở quán Cô Lợi sau lưng khu A7. Lần nào bên thầy cũng thua, và người trả tiền luôn là thầy. Sinh viên hiểu: thầy biết trò nghèo, lấy đâu ra tiền.

Người thầy 2 tay giải 2 bài toán qua lời kể sinh viên Đà Lạt - Ảnh 2.

PGS.TSKH Nguyễn Hữu Đức (thứ 3 hàng thứ 3 bên trái sang), chụp ảnh cùng lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng - Ảnh: TRƯƠNG NGỌC THỤY

Chuyện về ông còn hóm hỉnh theo kiểu một nhà toán học lớn. Ông Khánh khi đó là sinh viên và hay đi lấy thư cho khoa toán. Thư gửi thầy Đức nhiều nhất, phần lớn từ nước ngoài, trong đó có cả thư của NASA. Một lần trao thư, ông Khánh hỏi đùa: "NASA mời thầy sang làm việc ạ?". Thầy cười: "Dùng Lý thuyết kỳ dị mà trị được điểm kỳ dị hấp dẫn của hố đen vũ trụ thì chắc chắn NASA sẽ mời tôi làm việc".

Với sinh viên thời đó, tiền nhà tiếp tế là chuyện sống còn. Thầy Đức sẵn sàng ký giấy báo lãnh tiền của bưu điện cho trò ở bất cứ đâu - trong lớp, ở văn phòng khoa, hay ngay ngoài đường, miễn trò cần.

Ra trường, nhiều người được thầy viết thư tay xin việc bằng chính quan hệ cá nhân. Yêu học trò là vậy, nhưng cũng chính học trò khiến ông buồn và suy nghĩ nhiều về thời thế. Năm 1994, thầy Đức làm Chủ tịch hội đồng bảo vệ luận văn lớp toán khóa 14. Hôm đó ông không giấu được thất vọng: cả 10 luận văn bảo vệ đều về tin học, không một đề tài nào làm về toán.

Năm 2007 thầy Đức mất. Sinh viên lớp toán khóa 14 đến viếng thầy tại Trường đại học Đà Lạt. Ông Thụy kể: thầy đi xa rồi nhưng đến giờ hình ảnh tài tử, lịch lãm cùng giọng Bắc trầm ấm sang trọng vẫn còn nguyên trong bao thế hệ sinh viên Đà Lạt. Hình dung về người thầy hai tay viết hai nội dung trên bảng đã theo họ về suốt những năm sau đó.

Người thầy 2 tay giải 2 bài toán qua lời kể sinh viên Đà Lạt - Ảnh 4.Vì sao điểm chuẩn ngành kỹ thuật hạt nhân Trường đại học Đà Lạt tăng vọt?

Trường đại học Đà Lạt lý giải nguyên nhân điểm chuẩn ngành kỹ thuật hạt nhân thuộc nhóm cao nhất trường.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Trường đại học Đà Lạt (1976 - 2026), ký ức về cố PGS.TSKH Nguyễn Hữu Đức (1950 - 2007) được nhiều thế hệ học trò xúc động nhắc lại. Thời điểm đảm nhiệm vị trí Phó hiệu trưởng kiêm Trưởng khoa Toán, ông là trụ cột sáng lập nhóm nghiên cứu Lý thuyết kỳ dị đầu tiên tại Việt Nam, trực tiếp giảng dạy môn giải tích và tô pô đại cương cho lớp toán khóa 14. Hình ảnh người thầy đứng lớp với khả năng cầm phấn viết bảng bằng hai tay cùng lúc, giải song song hai bài toán khác nhau đã trở thành dấu ấn sư phạm kinh điển. Kỹ năng đặc biệt ấy phản ánh năng lực tư duy đa nhiệm vượt bậc, đồng thời truyền cảm hứng học tập mạnh mẽ giúp sinh viên vượt qua tính chất khô khan, trừu tượng của toán học cao cấp. Trong đánh giá học thuật, ông luôn đề cao phương pháp luận cốt lõi hơn là đáp số cơ học, đồng thời ứng xử chuẩn mực và bao dung trước các lỗi sai của người học. Không chỉ ghi dấu bởi tài năng chuyên môn, nhà toán học từng tu nghiệp tại Pháp và Ý còn tạo dựng phong cách giảng dạy lịch lãm với âu phục chỉnh tề cùng lối sống gần gũi. Những buổi thi đấu bóng chuyền sau giờ học và các buổi liên hoan do chính thầy chi trả đã trở thành điểm tựa tinh thần quý báu cho sinh viên nghèo trong giai đoạn gian khó. Di sản mà ông để lại cho Trường đại học Đà Lạt là tấm gương mẫu mực về sự kết hợp giữa học vấn đỉnh cao và nhân cách vị tha.
amung