Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tinh thần tăng, cử nhân tâm lý vẫn khó tìm việc
Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tinh thần ngày càng tăng, nhưng nhiều cử nhân tâm lý học sau khi tốt nghiệp vẫn khó tìm việc đúng chuyên môn. Từ trải nghiệm học tập và thực tập tại Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, tôi nhận thấy đây là vấn đề cần được quan tâm. Theo quan sát của tôi, mỗi ngày có gần 200 lượt khám tại đây, trong đó khoảng 70% là nữ giới.
Trong khi nhu cầu xã hội hiện hữu, nhiều cử nhân Tâm lý học vẫn phải chuyển sang làm nhân sự hoặc bán hàng. Tại nhiều trường học, công tác tư vấn tâm lý vẫn do giáo viên hoặc cán bộ Đoàn kiêm nhiệm. Khi thiếu người có chuyên môn sâu, hoạt động tư vấn có nguy cơ mang tính hình thức, khiến học sinh e ngại tìm đến hỗ trợ.

Nguyễn Trần Nguyệt Anh (Chủ nhiệm CLB Lễ tân, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam)
ẢNH: NVCC
Ở doanh nghiệp, các chương trình hỗ trợ sức khỏe tinh thần cho người lao động (EAP) chưa phổ biến, dù áp lực công việc và tình trạng kiệt sức ngày càng đặt ra yêu cầu về những giải pháp chuyên nghiệp.
Bên cạnh đó, hành lang pháp lý và tiêu chuẩn hành nghề trong lĩnh vực tham vấn, hỗ trợ tâm lý xã hội chưa rõ ràng, gây khó khăn cho người học và khiến người sử dụng dịch vụ khó phân biệt hoạt động chuyên môn với các dịch vụ "chữa lành" tự phát.
Theo tôi, cần triển khai đồng bộ 3 nhóm giải pháp: bố trí nhân sự tâm lý học đường chuyên trách tại những nơi có nhu cầu cao; khuyến khích doanh nghiệp xây dựng chương trình chăm sóc sức khỏe tinh thần cho người lao động; hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ năng nghề, phân định rõ phạm vi giữa tâm lý lâm sàng và tham vấn, hỗ trợ tâm lý xã hội, đồng thời giám sát đạo đức nghề nghiệp.
Tôi mong tại Diễn đàn Thủ tướng Chính phủ đối thoại với thanh niên ngày 15.10, những vướng mắc về vị trí việc làm, cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp và tiêu chuẩn hành nghề được lắng nghe, từng bước tháo gỡ. Người trẻ học ngành tâm lý học cần cơ chế minh bạch, bình đẳng để được làm đúng nghề, sống được bằng nghề và cống hiến cho xã hội.
Nguyễn Trần Nguyệt Anh (Chủ nhiệm CLB Lễ tân, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam)
Mở đường để người trẻ biến tri thức văn hóa thành sản phẩm khởi nghiệp
Là người trẻ học và nghiên cứu lịch sử, tôi cho rằng, chính sách khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo cần mở rộng cơ hội cho lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Điều cần thiết không phải là có thêm chính sách chung, mà là tạo ra "đường đi" cụ thể để tri thức của người trẻ trở thành sản phẩm, doanh nghiệp và việc làm.
Trước hết, Chính phủ cần xây dựng các chương trình ươm tạo, quỹ hỗ trợ dành cho dự án kết hợp khoa học xã hội và nhân văn với công nghệ, thiết kế, kinh tế. Sinh viên lịch sử có ý tưởng phát triển trò chơi lịch sử, bảo tàng số, du lịch di sản hay nền tảng giáo dục cần có cơ hội tiếp cận hệ sinh thái khởi nghiệp. Mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa cần được cụ thể hóa thành các chương trình thiết thực dành cho sinh viên và nhà nghiên cứu trẻ.

Lê Hoài Nam (sinh viên Khoa Lịch sử, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHQG Hà Nội)
ẢNH: NVCC
Thứ hai, Nhà nước có thể trở thành "khách hàng đầu tiên" thông qua cơ chế đặt hàng và thí điểm. Địa phương có thể đặt hàng các nhóm sinh viên, trường đại học và doanh nghiệp trẻ số hóa di sản, xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa hoặc phát triển nội dung giáo dục địa phương. Có môi trường thử nghiệm, người sử dụng và đầu ra ban đầu sẽ giúp các ý tưởng tiến gần hơn đến khả năng hình thành doanh nghiệp.
Thứ ba, cần tháo gỡ vướng mắc về tài sản trí tuệ và vốn. Giá trị của lĩnh vực khoa học xã hội không chỉ nằm ở máy móc hay bằng sáng chế, mà còn ở dữ liệu, nội dung, bản quyền, thiết kế, thương hiệu và tri thức chuyên môn. Những định hướng huy động vốn tại Nghị quyết 68 cần được cụ thể hóa bằng cơ chế định giá, bảo hộ và tài trợ phù hợp với các dự án sáng tạo trẻ.
Bên cạnh đó, cần đổi mới từ đại học, giúp sinh viên khoa học xã hội biết sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu, ngoại ngữ, thiết kế và tư duy kinh doanh để gia tăng giá trị chuyên môn, thay vì buộc họ trở thành kỹ sư công nghệ.
Nếu kết nối được 3 mắt xích là trường đại học, chính sách hỗ trợ và thị trường, người trẻ học lịch sử, văn hóa hay các ngành khoa học xã hội không chỉ tìm kiếm công việc có sẵn, mà còn có thể tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp và nghề nghiệp mới từ nguồn tri thức, tài nguyên văn hóa phong phú của Việt Nam.
Lê Hoài Nam (sinh viên Khoa Lịch sử, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, ĐHQG Hà Nội)