Bỏ qua điều hướng

Nguồn lực cho công nghiệp sáng tạo

Nguồn lực cho công nghiệp sáng tạo
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Sau thời gian diễn ra nhiều hoạt động ý nghĩa, đưa các di tích, làng nghề, phố cổ trở thành sân khấu cho những sản phẩm sáng tạo mới, Festival Thăng Long-Hà Nội 2026 vừa khép lại. [Video] Festival Thăng Long - Hà Nội: dòng chảy di sản, lan tỏa giá trị văn hóa Thủ đô Festival Việt Nam Ibaraki 2026 - ...

Trước đó, tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, tọa đàm “Điện ảnh và Di sản-Từ ươm mầm tài năng đến phát triển công nghiệp sáng tạo” cũng dành phần lớn thời gian bàn về một vấn đề thời sự: làm thế nào để di tích, danh thắng, ký ức cộng đồng, phong tục, lễ hội, nghề truyền thống và tri thức dân gian thật sự trở thành nguồn lực cho công nghiệp sáng tạo. Điều đó cho thấy, phát huy giá trị di sản để phục vụ phát triển không còn là câu chuyện riêng của giới chuyên môn, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách trong bối cảnh hiện nay.

Khi di sản trở thành chất liệu sáng tạo

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển văn hóa cộng đồng Việt Nam, di sản văn hóa không chỉ là “nguồn lực nền tảng” mà còn là “nguồn cảm hứng sống” cho các ngành công nghiệp văn hóa. Từ huyền thoại, tín ngưỡng, lễ hội, âm nhạc dân gian, mỹ thuật truyền thống đến không gian kiến trúc, cảnh quan lịch sử, tất cả đều có thể được tái cấu trúc, diễn giải và chuyển hóa thành kịch bản phim, sản phẩm âm nhạc, thiết kế thời trang hay nội dung số. Đây chính là lợi thế cạnh tranh mà công nghiệp văn hóa Việt Nam đang có trong dòng chảy toàn cầu hóa.

Tại Festival Thăng Long-Hà Nội 2026 vừa diễn ra, nghề gốm Bát Tràng vốn quen với sản xuất và du lịch trải nghiệm được thử nghiệm theo một hướng khác trong chương trình “Thanh âm gốm”: âm thanh từ gốm và nhạc cụ chế tác bằng gốm kết hợp với múa, xiếc, sắp đặt. Tại Văn Miếu, “Nhận Học bạ-Làm Giám sinh” biến lịch sử khoa cử thành trải nghiệm nhập vai cho công chúng, còn “Nét Hà thành-Câu chuyện Hà Nội qua tà áo dài” đưa ký ức đô thị và kỹ thuật nghề may Trạch Xá vào những bộ sưu tập áo dài. Từ một nghề thủ công, một câu chuyện lịch sử với nhiều cách khai thác khác nhau đã ra đời.

Thiếu mắt xích, di sản chưa thể thành công nghiệp

Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan chỉ ra bốn điểm nghẽn mang tính hệ thống. Trước hết là tư duy tiếp cận: di sản vẫn thường được nhìn chủ yếu như đối tượng cần bảo tồn, thậm chí “đóng khung”, tâm lý sợ sai khiến việc khai thác hoặc quá cứng nhắc, hoặc tự phát, thiếu định hướng. Thứ hai là thể chế, chính sách: khung pháp lý về quyền khai thác, quyền tác giả, quyền sử dụng hình ảnh và tri thức truyền thống còn thiếu rõ ràng, chưa đủ để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn. Thứ ba là thiếu đội ngũ trung gian: những nhà sản xuất, giám tuyển, chuyên gia kể chuyện hiểu cả di sản lẫn thị trường, khiến nhiều ý tưởng tốt không chuyển hóa được thành sản phẩm cạnh tranh. Thứ tư, cách kể câu chuyện di sản còn nặng tính trình diễn, trưng bày, thiếu thương hiệu và công nghệ số để tiếp cận công chúng trẻ.

Điểm nghẽn về thể chế đang từng bước được xử lý. Theo Thông báo số 12-TB/BCĐTW ngày 30/7/2026, Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa đã xác định công nghiệp văn hóa là một động lực tăng trưởng mới, đồng thời giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp các cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thiện dự án Luật để trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 10/2026. Dự thảo luật đang được góp ý theo hướng tiếp cận công nghiệp văn hóa như một chuỗi giá trị: từ sáng tạo, tài sản trí tuệ đến vốn, sản xuất, phân phối và tái đầu tư, với những công cụ mới như cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hay mã định danh tài sản trí tuệ. Đây cũng là một trong các nội dung quan trọng mà Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị đã đặt ra: Lấy di sản làm trung tâm để vừa bảo tồn, vừa phát huy, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo cho công nghiệp văn hóa.

Tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bà Phạm Thị Thanh Hường, Trưởng ban Văn hóa, Văn phòng UNESCO tại Hà Nội, gợi mở những cách tiếp cận hiệu quả: Hàn Quốc cho phép quay phim tại di tích kèm cơ chế quản lý cụ thể, Campuchia đã ban hành quy định riêng về quay phim gắn với di sản từ năm 2024, tất cả theo tinh thần tiếp cận di sản với trách nhiệm, thay vì bị “đóng băng”.

Những cách làm sáng tạo, hiệu quả thời gian qua tại Hà Nội cho thấy một hướng đi khả thi: khi các mắt xích được kết nối, hệ sinh thái sáng tạo hoàn toàn có thể hình thành. Hàng loạt không gian sáng tạo đã hình thành trên nền di sản đô thị, từ Hanoi Creative City, Heritage Space đến phố đi bộ Hồ Gươm, phố bích họa Phùng Hưng, vừa giữ được ký ức đô thị, vừa mang sức sống mới, nhất là với giới trẻ.

Điều còn thiếu, theo giám tuyển Nguyễn Thế Sơn, giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, là sự liên tục. Nhìn từ các sự kiện nghệ thuật quốc tế như La Biennale di Venezia (Triển lãm nghệ thuật Venice Biennale, Italy) hay Les Rencontres d'Arles (liên hoan nhiếp ảnh mùa hè quốc tế nổi tiếng thế giới, được tổ chức hằng năm tại thành phố Arles, miền nam nước Pháp), ông cho rằng, nếu thời gian tổ chức một festival là bốn tháng thì tám tháng còn lại phải là thời gian “ươm mầm”, người làm nghề có nơi làm việc, có thiết chế hỗ trợ, có môi trường để tiếp tục thử nghiệm. Một sản phẩm tại Festival Thăng Long-Hà Nội không nhất thiết phải chờ kỳ sau mới xuất hiện trở lại; mà hoàn toàn có thể duy trì quanh năm tại chính di tích, bảo tàng hay làng nghề đã sinh ra nó.

Các chuyên gia đề xuất cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, quy chế phối hợp giữa nhà sáng tạo với đơn vị quản lý di sản để mỗi lần khai thác không phải bắt đầu từ số không; đầu tư hạ tầng sáng tạo: từ trường quay, không gian sáng tạo đến nền tảng phân phối, đủ sức đưa sản phẩm từ di sản vượt khỏi quy mô nhỏ lẻ; và đào tạo đội ngũ vừa hiểu sâu văn hóa dân tộc, vừa có kỹ năng chuyển hóa nó bằng ngôn ngữ nghệ thuật, công nghệ hiện đại. Chỉ khi ba yếu tố này khớp với nhau, những giá trị vốn được xem là của quá khứ mới có thể trở thành nguồn lực cho một nền công nghiệp văn hóa Việt Nam vừa giữ được bản sắc, vừa có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

PHONG ĐIỆP

Festival Thăng Long-Hà Nội 2026 vừa qua đã biến nhiều di tích và làng nghề truyền thống thành không gian trình diễn nghệ thuật sáng tạo độc đáo. Sự kiện cùng tọa đàm tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám khẳng định di sản văn hóa không chỉ cần bảo tồn mà phải trở thành nguồn lực cốt lõi cho các ngành công nghiệp văn hóa. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, Chủ tịch Hiệp hội Phát triển văn hóa cộng đồng Việt Nam, các giá trị truyền thống hoàn toàn có thể chuyển hóa thành sản phẩm công nghiệp sáng tạo có lợi thế cạnh tranh cao. Tuy nhiên, việc biến di sản thành tài sản phát triển kinh tế đang đối mặt với bốn điểm nghẽn hệ thống lớn. Đó là tư duy tiếp cận cứng nhắc, khung pháp lý về bản quyền chưa rõ ràng, sự thiếu hụt lực lượng trung gian chuyên nghiệp và phương thức kể chuyện còn nặng tính trưng bày. Những rào cản này khiến nhiều ký ức đô thị và tri thức dân gian chưa thể chuyển hóa hiệu quả thành các sản phẩm mang giá trị thị trường bền vững. Để tháo gỡ khó khăn, Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa đã ban hành Thông báo số 12-TB/BCĐTW ngày 30/7/2026, xác định công nghiệp văn hóa là động lực tăng trưởng mới của đất nước. Cơ quan chức năng giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẩn trương hoàn thiện dự án Luật liên quan để kịp trình Quốc hội vào kỳ họp tháng 10/2026. Việc thể chế hóa chính sách được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý vững chắc, đưa di sản Việt Nam bứt phá mạnh mẽ trong dòng chảy toàn cầu hóa.