Nhiều gói thầu có nguy cơ trễ hẹn
Theo đánh giá của Bộ Xây dựng, tổng giá trị sản lượng đã thực hiện của dự án thành phần 3-Các công trình thiết yếu Cảng Hàng không quốc tế Long Thành đạt gần 74.285 tỷ đồng, tương đương khoảng 86%. Trong đó, 4 trên tổng số 16 gói đã hoàn thành xây dựng, gồm: Gói thầu 2.4 (Tường rào ranh giới cảng hàng không trong phạm vi 1.810ha); Gói thầu 3.4 (San nền và thoát nước); Gói thầu 5.6 (Thi công cọc nhà ga hành khách) và Gói thầu 6.12 (Thi công xây dựng và lập thiết kế bản vẽ thi công công trình hệ thống giao thông kết nối tuyến số 1 và tuyến số 2).
Trong 12 gói thầu còn lại, có 8 gói thầu có khả năng hoàn thành trong tháng 12 tới gồm: Gói 4.6 (Đường cất hạ cánh thứ nhất, đường lăn, sân đỗ tàu bay); gói 4.12 (Đường cất hạ cánh thứ 2); gói 4.7 (Sân đỗ tàu bay nhà ga hành khách); gói 4.9 (Hệ thống cung cấp nhiên liệu); gói 4.11 (Công trình xử lý nước thải); gói 5.11 (Thiết bị hệ thống quản lý sân bay); gói 2.10 (Tường rào ranh giới cảng hàng không); gói 7.8a (Thi công hạng mục cọc nhà ga hàng hóa số 1 và xây dựng, lắp đặt thiết bị các công trình phụ trợ còn lại).
Đối với 4 gói thầu khó có khả năng hoàn thành trong tháng 12/2026 gồm: Gói 4.8 (Giao thông nội cảng và hạ tầng kỹ thuật, mới đạt hơn 80%); gói 7.8 (Nhà ga hàng hóa số 1 và các công trình phụ trợ, đạt hơn 47%); gói 11.5 (Nhà để xe, đạt khoảng 43%); gói 5.10 (Nhà ga hành khách, đạt khoảng 83%). Theo đánh giá của Bộ Xây dựng, khối lượng công việc còn lại của gói 4.8 rất lớn, các hạng mục chủ yếu liên quan đến hạ tầng kỹ thuật (bao gồm 43km đường cấp 3 và 8km đường trục chính); việc thiếu hụt hơn 1.000 nhân sự thi công đang là nguyên nhân chính khiến tiến độ gói thầu không thể đẩy nhanh.
Theo kế hoạch của chủ đầu tư Tổng Công ty Cảng Hàng không Việt Nam (ACV), để hoàn thành các hạng mục dự kiến, cần khoảng 100.000 tấn bê-tông nhựa (tương đương 5.000 tấn nhựa và 60.000m3 đá) trong điều kiện nguồn cung bê-tông nhựa đang thiếu hụt nghiêm trọng như hiện nay là khó khả thi. Ngoài ra, hệ thống thiết bị tại Trung tâm năng lượng chưa hoàn thành lắp đặt toàn bộ và chưa tiến hành chạy thử đơn động, liên động có tải. Đây là điều kiện tiên quyết để khai thác nhà ga hành khách. Theo nhận định từ phía Bộ Xây dựng, tiến độ hoàn thành gói thầu đến hết tháng 11/2026 đang tiềm ẩn nhiều rủi ro không đáp ứng tiến độ.
Một hạng mục quan trọng khác là nhà ga hành khách (gói 5.10), mặc dù phần kết cấu đã hoàn thành xây dựng và đang triển khai hoàn thiện, song trên thực tế khối lượng còn lại rất lớn, đòi hỏi phối hợp nhiều bên. Nhà thầu gặp khó khăn trong huy động cán bộ kỹ thuật, nhân công tay nghề cao để triển khai các hạng mục như hàn, lắp đặt thiết bị chuyên ngành. Công tác nội nghiệp triển khai rất chậm dẫn đến chậm thanh toán và chậm triển khai trên hiện trường, khó hoàn thành theo kế hoạch.
“Công trình có 51 kịch bản thử nghiệm liên động có tải cho các hệ thống điện, cấp-thoát nước, điều hòa không khí và thông gió, phòng cháy chữa cháy, thiết bị nhà ga. Đến nay, còn 16 kịch bản thử nghiệm chưa được phê duyệt. Đối với các kịch bản đã phê duyệt, hiện mới tiến hành thử nghiệm đối với hệ thống điện nguồn, chiếu sáng, phát thanh; các hệ thống còn lại chưa thử nghiệm, chủ đầu tư đến nay cũng chưa xác định được thời gian hoàn thành công việc thử nghiệm”, Thứ trưởng Xây dựng Phạm Minh Hà bày tỏ lo lắng.
Hạng mục nhà ga hàng hóa số 1 và các công trình phụ trợ cũng đang đối mặt với việc thiếu trầm trọng công nhân, nhân lực có tay nghề để thực hiện thi công. Tiến độ lắp đặt thiết bị chuyên ngành hàng không phụ thuộc vào tiến độ đặt hàng và vận chuyển hàng hóa về Việt Nam. Trường hợp thiết bị về công trường không đúng tiến độ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ hoàn thành của gói thầu theo tiến độ gia hạn.
Gói thầu nhà để xe, nhà thầu không huy động đủ số lượng nhân sự trong suốt thời gian dài đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ gói thầu, đây là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến tiến độ triển khai hạng mục rất chậm chạp.
Đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn công trình khi đưa vào khai thác
Đầu tháng 10 vừa qua, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã trực tiếp kiểm tra hiện trường, đôn đốc tiến độ dự án Cảng Hàng không quốc tế Long Thành. Theo kế hoạch, giai đoạn 1 của dự án sẽ hoàn thành, đưa vào khai thác trong năm 2026. Vì vậy, các bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư, nhà thầu và các đơn vị liên quan chuyển sang trạng thái nước rút, tăng tốc triển khai; kiểm soát chặt tiến độ từng công việc, hạng mục, gói thầu; không chủ quan, đùn đẩy trách nhiệm.
Đặc biệt, Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh, yêu cầu hoàn thành dự án theo tiến độ được Quốc hội đề ra là rất quan trọng, đồng thời phải bảo đảm chất lượng công trình. Đối với một cảng hàng không quốc tế, chất lượng, an ninh, an toàn và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, quy định chuyên ngành là yêu cầu tiên quyết trước khi đưa công trình vào khai thác.
Theo phân tích của một chuyên gia hàng không, để nhà chức trách hàng không (Cục Hàng không Việt Nam) có đủ cơ sở kiểm tra, đánh giá và cấp phép theo pháp luật chuyên ngành hàng không, các dự án thành phần và hạng mục liên quan đến an toàn hoạt động hàng không phải được hoàn thành đồng bộ. Đặc biệt, dự án thành phần 3 có vai trò then chốt, một số gói thầu phải hoàn thành trong tháng 11/2026 để các dự án liên quan thuộc dự án thành phần 1, 2, 4 có thể đấu nối hạ tầng kỹ thuật, thực hiện nghiệm thu xây dựng; đồng thời để các chủ đầu tư và cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan thực hiện các thủ tục cấp phép về môi trường, an ninh hàng không,...
Theo thông lệ quốc tế và hướng dẫn, khuyến nghị của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA), đối với các cảng hàng không mới, quy mô lớn và có tính tích hợp cao, chương trình chuẩn bị khai thác (ORAT) không chỉ nhằm kiểm tra thiết bị, mà còn là quá trình kiểm chứng toàn bộ khả năng vận hành thực tế của cả hệ thống, bao gồm hạ tầng, thiết bị, công nghệ thông tin, nhân sự, quy trình vận hành, các đơn vị cung cấp dịch vụ hàng không và cơ chế phối hợp giữa các bên; qua đó phát hiện lỗi, xác định điểm nghẽn, tổ chức khắc phục, vận hành thử lại và hoàn thiện quy trình trước khi khai thác thương mại.
Có thể coi ORAT là cầu nối giữa “sẵn sàng về xây dựng” và “sẵn sàng khai thác”, trong đó có những đợt thử nghiệm tích hợp với sự tham gia của các bên liên quan. Tại một số sân bay lớn, quá trình này thường được triển khai nhiều tháng trước khai thác chính thức và theo nhiều vòng thử nghiệm, không chỉ một đợt thử nghiệm đơn lẻ. Đối với Long Thành, chương trình ORAT với 55 kịch bản được tổ chức thành 3 đợt (từ tháng 9 đến tháng 12/2026), nhằm đánh giá mức độ sẵn sàng của hệ thống, hạ tầng và nhân sự.
Tuy nhiên, với quy mô, mức độ phức tạp và số lượng hệ thống liên kết của Long Thành, thời gian ORAT ngắn sẽ làm giảm khoảng thời gian dự phòng để xử lý các lỗi phát sinh, đặc biệt đối với các lỗi chỉ xuất hiện khi vận hành đồng thời nhiều hệ thống hoặc khi có lưu lượng hành khách, hành lý, hàng hóa và tàu bay thực tế. Do đó, các chuyên gia hàng không khuyến cáo cần đánh giá thận trọng rủi ro kỹ thuật và khai thác của phương án, bảo đảm mọi tồn tại phát hiện qua vận hành thử phải được phân loại, khắc phục, thử nghiệm lại và xác nhận đủ điều kiện trước khi chuyển sang khai thác thương mại.
Cảng Hàng không quốc tế Long Thành là cảng cửa ngõ quốc gia, trung tâm trung chuyển hàng không mới, tiêu chuẩn phục vụ chất lượng cao nên cần bảo đảm hoàn thiện và sự sẵn sàng các công trình, hệ thống trang thiết bị, dây chuyền phục vụ hoạt động vận tải hàng không và chất lượng phục vụ hành khách, dịch vụ hàng hóa theo đúng mục tiêu đầu tư của dự án. Cần xây dựng và giữ gìn cho Long Thành hình ảnh một công trình quan trọng quốc gia, hiện đại và tiện ích, tạo ấn tượng tốt đẹp, đáp ứng niềm tin, kỳ vọng của các hãng hàng không, hành khách, dư luận trong và ngoài nước. Trường hợp đưa Long Thành vào khai thác trong khi nhiều hạng mục vẫn tiếp tục xây dựng, có thể ảnh hưởng chất lượng phục vụ đối với các hãng hàng không và hành khách.
Ngoài ra, năng lực khai thác cảng hàng không cần đồng bộ về hệ thống giao thông kết nối, sự thuận lợi của dịch vụ vận tải công cộng chất lượng cao, đáp ứng được lưu lượng khách đi/đến cảng hàng không vào giờ cao điểm, bảo đảm thời gian phục vụ khách nối chuyến giữa Tân Sơn Nhất và Long Thành. Tuy nhiên, hệ thống giao thông kết nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh đến Long Thành đang phụ thuộc hoàn toàn vào đường bộ, chưa hoàn thành phương án kết nối trung chuyển hành khách giữa Tân Sơn Nhất và Long Thành,... đến thời điểm này chưa đánh giá được đầy đủ năng lực vận chuyển và khả năng phương án tổ chức giao thông và các tình huống phát sinh nếu có.
Bộ Xây dựng đã kiến nghị lãnh đạo Chính phủ chỉ đạo ACV rà soát kỹ khối lượng còn lại của các gói thầu, đặc biệt đối với 4 gói thầu 5.10, 4.8, 7.8 và 11.5 nêu trên, xác định rõ tiến độ hoàn thành đối với từng hạng mục còn lại, tiến độ hoàn thành công tác xây dựng, lắp đặt thiết bị và hoàn thiện. Trên cơ sở đó, xác định số lượng nhân công, máy móc thiết bị, nhiên liệu, vật liệu xây dựng để bảo đảm tiến độ; đánh giá vướng mắc, xác định giải pháp cụ thể đối với từng nhà thầu, từng gói thầu của dự án.
Các nhà thầu thi công huy động đủ nhân lực, máy móc thiết bị, nhiên liệu và vật liệu để bảo đảm tiến độ cam kết; trường hợp không đáp ứng, chủ đầu tư ACV phân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan để có biện pháp xử lý theo quy định của hợp đồng để bảo đảm tiến độ dự án. Riêng gói thầu 5.10, ACV cần khẩn trương hoàn thành việc lập, phê duyệt các kịch bản vận hành thử nghiệm đơn động, liên động các hệ thống cơ điện, phòng cháy chữa cháy, hệ thống thiết bị nhà ga, hệ thống quản lý sân bay bảo đảm phù hợp với yêu cầu thiết kế và triển khai thực hiện thử nghiệm sau khi hoàn thành thi công lắp đặt.
TRANG LINH