Bỏ qua điều hướng
•

Nhiều ngành học khó tuyển sinh, 10 - 15 năm nữa có thể thiếu nhà khoa học?

Nhiều ngành học khó tuyển sinh, 10 - 15 năm nữa có thể thiếu nhà khoa học?
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Nhiều ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật khó tuyển sinh, tiềm ẩn nguy cơ đứt gãy thế hệ nhà khoa học trong 10 - 15 năm tới.

Ngành học ít người chọn, đất nước vẫn cần - Ảnh 1.

PGS.TS Võ Thanh Tùng - Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học, Đại học Huế, đại biểu Quốc hội khóa XV - Ảnh: NVCC

Trao đổi với Tuổi Trẻ, PGS.TS Võ Thanh Tùng - Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học, Đại học Huế, đại biểu Quốc hội khóa XV - nhấn mạnh không thể chỉ nhìn vào số lượng thí sinh đăng ký hôm nay để quyết định sự tồn tại của một ngành học, bởi có những năng lực khoa học phải mất hàng chục năm mới xây dựng được.

Ông cho rằng cần có chính sách hỗ trợ đồng bộ, từ miễn giảm học phí, đặt hàng đào tạo đến đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm cơ hội việc làm.

Ngành khoa học cơ bản khó tuyển sinh, nguy cơ đứt gãy thế hệ nhà khoa học

* Thưa ông, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo danh mục ngành, nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nhóm ngành khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu. Ông nhìn nhận thế nào về đề xuất này?

- Tôi cho rằng việc Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng dự thảo thông tư này là cần thiết. Không phải ngành học nào đang khó tuyển sinh cũng là ngành mà xã hội không còn nhu cầu.

Thực tế nhiều năm qua cho thấy một số ngành thuộc lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật, địa chất, môi trường, nông - lâm - ngư nghiệp đang gặp khó khăn trong tuyển sinh.

Có những ngành ít người học không phải vì không có giá trị, mà bởi đặc thù nghề nghiệp, điều kiện lao động, chi phí đào tạo hoặc cơ hội việc làm chưa đủ hấp dẫn đối với người trẻ.

Trong khi đó, đây lại là những lĩnh vực cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, an toàn và năng lực khoa học, công nghệ của đất nước.

Tôi từng chia sẻ tại các diễn đàn rằng: "Có những ngành thị trường tại một thời điểm có thể chưa đủ sức nuôi dưỡng, nhưng quốc gia không thể không có".

* Dự thảo hiện tập trung chủ yếu vào bậc cao đẳng, trung cấp, trong khi nhiều ngành khoa học, kỹ thuật ở bậc đại học cũng khó tuyển sinh. Điều này ảnh hưởng thế nào đến việc chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao?

- Tại Trường đại học Khoa học, Đại học Huế, chúng tôi đào tạo nhiều ngành khoa học cơ bản và kỹ thuật như hóa học, sinh học, địa chất, môi trường và các lĩnh vực công nghệ liên quan.

Đặc điểm chung của nhiều ngành này là chi phí đào tạo tương đối lớn, đòi hỏi hệ thống phòng thí nghiệm, thiết bị chuyên dụng và hoạt động thực hành, thực địa thường xuyên.

Ngành học ít người chọn, đất nước vẫn cần - Ảnh 2.

Phòng thực hành hóa sinh ở Trường đại học Khoa học, Đại học Huế - Ảnh: Trường đại học Khoa học, Đại học Huế

Điều khiến tôi trăn trở nhất không chỉ là thiếu kỹ sư hay chuyên gia trong một vài năm tới, mà là nguy cơ đứt gãy thế hệ nhà khoa học trong 10 hoặc 15 năm sau.

Vì vậy bên cạnh chính sách dành cho giáo dục nghề nghiệp, tôi kiến nghị cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với những ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đặc thù ở trình độ đại học.

* Miễn, giảm học phí có đủ sức thu hút thí sinh hay cần thêm những chính sách hỗ trợ khác, thưa ông?

- Tôi cho rằng miễn, giảm học phí là chính sách cần thiết, có ý nghĩa nhân văn và có thể tạo thêm động lực để người học lựa chọn những ngành đào tạo đặc thù. Tuy nhiên, chỉ miễn, giảm học phí thì chưa đủ để giải quyết căn bản bài toán tuyển sinh.

Học phí mới là một phần trong tổng chi phí học tập. Với nhiều sinh viên đến từ các địa phương miền Trung, Tây Nguyên, vùng sâu, vùng xa, chi phí sinh hoạt, nhà ở, đi lại và điều kiện thực hành cũng là những gánh nặng đáng kể.

Theo tôi, cần một hệ thống chính sách hỗ trợ đồng bộ. Đối với những ngành Nhà nước có nhu cầu nhân lực lâu dài nhưng khó tuyển sinh, cần tăng cơ chế đặt hàng đào tạo, học bổng và hỗ trợ sinh hoạt phí trực tiếp cho người học.

Các trường cũng cần tăng cường gắn kết với doanh nghiệp, cơ quan sử dụng lao động từ khâu xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, thực tập đến tuyển dụng.

Tự chủ đại học không có nghĩa Nhà nước rút lui

* Với những ngành có chi phí đào tạo lớn nhưng khó tuyển sinh, cần cơ chế tài chính thế nào để việc miễn, giảm học phí không trở thành gánh nặng cho các trường tự chủ?

- Tôi hoàn toàn đồng tình với chủ trương tự chủ đại học. Nhưng thực tiễn cũng cho thấy, nếu tự chủ được hiểu chủ yếu là tự chủ tài chính, và mọi lĩnh vực đào tạo đều phải tự cân đối thu - chi theo một cách tương đối giống nhau, thì những ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật đặc thù rất dễ rơi vào thế bất lợi.

Quan điểm của tôi là tự chủ đại học phải đi cùng phân loại sứ mạng và trách nhiệm đầu tư của Nhà nước. Tự chủ không có nghĩa là Nhà nước rút lui. Khi Nhà nước thực hiện miễn, giảm học phí, phải có cơ chế bảo đảm kinh phí đầy đủ, kịp thời theo quy định, tránh để các cơ sở đào tạo phải tự gánh thêm áp lực tài chính hoặc ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.

* Theo ông, cần tiêu chí nào để xác định một ngành khó tuyển sinh nhưng xã hội vẫn có nhu cầu?

- Tôi đánh giá cao việc dự thảo đã đưa ra các tiêu chí tương đối cụ thể để xác định ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu. Tuy nhiên theo tôi, cần tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí theo hướng không chỉ phản ánh khó khăn tuyển sinh trước mắt, mà còn nhận diện được giá trị chiến lược và nhu cầu duy trì năng lực đào tạo của một ngành trong dài hạn.

Chẳng hạn, dự thảo đề cập tiêu chí tỉ lệ tuyển sinh bình quân dưới 70% so với chỉ tiêu trong ba năm liên tiếp. Đây là một chỉ báo cần thiết, nhưng nếu chỉ nhìn vào tỉ lệ thực hiện chỉ tiêu thì có thể chưa phản ánh đầy đủ thực trạng.

Ngành học ít người chọn, đất nước vẫn cần - Ảnh 4.

Theo ông Võ Thanh Tùng, cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với những ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đặc thù ở trình độ đại học - Ảnh: Trường đại học Khoa học, Đại học Huế

Một ngành trước đây tuyển được 100 sinh viên mỗi năm, nay chỉ còn 20 hoặc 30 sinh viên nhưng nhà trường đã chủ động giảm chỉ tiêu tuyển sinh tương ứng, thì tỉ lệ hoàn thành chỉ tiêu vẫn có thể cao, trong khi quy mô đào tạo thực tế đã thu hẹp đáng kể.

Vì vậy, tôi kiến nghị cần đánh giá đồng thời tỉ lệ tuyển sinh, quy mô tuyển sinh tuyệt đối, xu hướng biến động qua nhiều năm và nhu cầu nhân lực được dự báo từ các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp.

Ngành học ít người chọn, đất nước vẫn cần - Ảnh 6.Hướng nghiệp không thể dừng lại ở việc giới thiệu ngành học

Đó là phát biểu của ông Lê Thắng Lợi, Giám đốc Trung tâm Phát triển giáo dục và đào tạo phía Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, tại lễ khai mạc chương trình hướng nghiệp "Cùng bạn chọn ngành nghề trong kỷ nguyên số" năm học 2026-2027.

Thực trạng nhiều ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật, địa chất, môi trường và nông lâm ngư nghiệp gặp khó khăn tuyển sinh đang đặt ra thách thức lớn đối với việc chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao của quốc gia. Theo PGS.TS Võ Thanh Tùng, Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Huế kiêm đại biểu Quốc hội khóa XV, xã hội không thể chỉ căn cứ vào số lượng thí sinh đăng ký trước mắt để định đoạt sự tồn tại của một ngành đào tạo. Những lĩnh vực nghiên cứu nền tảng này đòi hỏi hàng chục năm tích lũy năng lực và có vai trò then chốt trong bảo đảm an ninh, an toàn cũng như tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia. Mối lo ngại lớn nhất hiện nay không đơn thuần là tình trạng thiếu hụt kỹ sư ngắn hạn, mà là nguy cơ đứt gãy thế hệ nhà khoa học kế cận trong vòng 10 đến 15 năm tới. Các ngành khoa học cơ bản luôn đòi hỏi chi phí đào tạo lớn, trang thiết bị thí nghiệm chuyên dụng và kinh phí thực địa tốn kém, trong khi sức hấp dẫn về việc làm trước mắt đối với người trẻ chưa cao. Thị trường lao động ở một thời điểm có thể chưa đủ sức tự nuôi dưỡng, nhưng đất nước không thể thiếu vắng đội ngũ chuyên gia thuộc các trụ cột tri thức này. Trước việc Bộ Giáo dục và Đào tạo lấy ý kiến dự thảo danh mục ngành khó tuyển sinh, các chuyên gia kiến nghị cần mở rộng cơ chế nâng đỡ sang cả bậc đại học thay vì chỉ giới hạn ở giáo dục nghề nghiệp. Biện pháp miễn giảm học phí là giải pháp nhân văn bước đầu để tạo động lực cho người học theo đuổi đam mê. Tuy nhiên, một chính sách tổng thể từ đặt hàng đào tạo, đầu tư hạ tầng thực hành cho đến bảo đảm đầu ra việc làm mới là chìa khóa duy trì nguồn nhân lực khoa học bền vững cho đất nước.
amung