Bỏ qua điều hướng
•

Nhiều ý nghĩa từ một cuốn sách về kiêng kỵ

Nhiều ý nghĩa từ một cuốn sách về kiêng kỵ
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Trong đời sống tín ngưỡng dân gian, nếu nghi lễ là cách con người hướng tới thần linh bằng những hành động cụ thể, thì kiêng kỵ là việc con người tự đặt mình vào giới hạn trước cái thiêng. Bởi vậy, những điều “không được làm” tưởng nhỏ bé lại chứa đựng một tầng sâu văn hóa.

Tìm hiểu “Tục kiêng kỵ trong thờ thần ở Hà Nội” (NXB Văn học) của các nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian Hà Nội (do Trần Văn Mỹ chủ biên) vì thế không chỉ là khảo sát phong tục, mà còn là miền tâm thức của cộng đồng cư dân Thăng Long - Hà Nội qua nhiều thế hệ. Qua công trình này, có thể nhận ra nhiều điều.

Trước hết, “kiêng kỵ” là cơ chế xác lập ranh giới giữa cái thiêng và cái tục. Đình, đền, miếu không đơn thuần là những công trình kiến trúc mà là những không gian đã được cộng đồng thiêng hóa. Khi bước qua ngưỡng cửa ấy, con người phải điều chỉnh lời nói, trang phục, hành vi, lễ vật và cách hành lễ. Những giới hạn ấy tạo nên trật tự của không gian thiêng, nhắc con người biết kính cẩn, giữ mình và tôn trọng những giá trị mà cộng đồng đã trao truyền. Nhưng kiêng kỵ không chỉ là sự cấm đoán. Mỗi điều kiêng là một mã văn hóa, trong đó lưu giữ những quan niệm về lành - dữ, sạch - uế, may - rủi, thiêng - tục. Có điều bắt nguồn từ thần tích, có điều gắn với truyền thuyết về vị thần, lịch sử di tích hoặc những kinh nghiệm được cộng đồng tích lũy. Vì vậy, phía sau một điều “không nên làm” thường là một câu chuyện, một niềm tin, một ký ức. Tách nó khỏi bối cảnh văn hóa, ta dễ coi đó là mê tín; đặt nó vào hệ thống tín ngưỡng dân gian, ta nhận ra một phương thức lưu giữ ký ức bằng thực hành.

Ý nghĩa ấy càng rõ trong không gian Hà Nội - một đô thị mà các lớp văn hóa truyền thống và hiện đại luôn đan xen. Quá trình đô thị hóa có thể làm biến đổi cảnh quan, thu hẹp không gian đình, đền, miếu, nhưng những quy tắc ứng xử trước thần linh vẫn góp phần bảo lưu bản sắc của từng di tích. Có thể xem tục kiêng kỵ như một “hàng rào mềm” bảo vệ không gian thiêng: Không tồn tại bằng vật chất, mà bằng ý thức và niềm tin của cộng đồng. Từ góc nhìn văn hóa học, kiêng kỵ còn là cơ chế tự điều chỉnh của cộng đồng. Một điều kiêng chỉ có sức sống khi được nhiều thế hệ thừa nhận và thực hành. Cùng tuân thủ những giới hạn ấy, con người cùng chia sẻ một hệ giá trị, qua đó điều chỉnh không chỉ quan hệ với thần linh mà cả quan hệ giữa người với người. Đằng sau sự kiêng giữ là ý thức về trật tự, chừng mực và trách nhiệm đối với không gian văn hóa chung.

Bởi vậy, tục kiêng kỵ trong thờ thần ở Hà Nội cần được nhìn như một mã văn hóa sống, giúp giải mã ký ức và tâm thức cộng đồng. Bảo tồn nó không có nghĩa là giữ nguyên mọi điều kiêng kỵ, mà là hiểu đúng nguồn gốc, chức năng và giá trị của chúng, để từ đó biết điều gì cần tiếp nối, điều gì cần diễn giải lại. Đó cũng là cách giữ cho những không gian thiêng của Hà Nội không chỉ còn hình hài của quá khứ, mà vẫn có khả năng đối thoại với đời sống hôm nay.

NGUYỄN THỊ THIỆN

Công trình nghiên cứu "Tục kiêng kỵ trong thờ thần ở Hà Nội" của Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội do tác giả Trần Văn Mỹ chủ biên đã tiếp cận tín ngưỡng dân gian từ góc nhìn tâm thức cộng đồng. Qua việc khảo sát hệ thống đình, đền, miếu của đất Thăng Long, cuốn sách cho thấy kiêng kỵ chính là cơ chế xác lập ranh giới nghiêm cẩn giữa cái thiêng và cái tục. Việc tự điều chỉnh lời nói, trang phục cho đến hành vi khi bước qua ngưỡng cửa di tích phản ánh sự kính cẩn và gìn giữ trật tự văn hóa đã được trao truyền qua nhiều thế hệ. Bản chất của các điều kiêng kỵ không đơn thuần dừng lại ở sự cấm đoán mang màu sắc mê tín dị đoan. Mỗi quy tắc ứng xử thực chất là một mã văn hóa chứa đựng thần tích, truyền thuyết lịch sử và kinh nghiệm ứng xử của cộng đồng. Đặt trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng làm biến đổi cảnh quan, những điều kiêng giữ này hoạt động như một hàng rào mềm vô hình nhằm bảo vệ bản sắc cùng tính tôn nghiêm của các không gian thiêng. Từ giác độ văn hóa học, tục kiêng kỵ còn đóng vai trò là công cụ tự điều chỉnh các mối quan hệ xã hội thông qua hệ giá trị chung. Việc bảo tồn di sản này đòi hỏi sự thấu hiểu căn nguyên và chức năng thực tế thay vì sao chép máy móc mọi quy tắc cổ xưa. Cách tiếp cận khoa học đó giúp các không gian văn hóa lịch sử của Hà Nội tiếp tục duy trì sức sống và đối thoại bền vững với nhịp sống đương đại.
amung