Bỏ qua điều hướng
•

Nhớ cụ già bát thập bên bàn gỗ, soi kính lúp từng dòng chữ Hán Nôm

Nhớ cụ già bát thập bên bàn gỗ, soi kính lúp từng dòng chữ Hán Nôm
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Lần đầu tôi gặp nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh vào hè năm 1993 khi ở Huế về nghỉ phép. Lần đó Tạp chí Hồng Lĩnh đăng bài của nhà văn Xuân Thiều viết về cha tôi và tôi đã đến nhà cụ để hỏi thêm một số thông tin về người cha quá cố của mình thời còn làm tuyên huấn tỉnh đội. Gặp cụ mới biết là đồng hương...

Dòng tộc Nho học và con đường “học mót” thành đại thụ văn hóa

Nhà nghiên cứu văn hóa Thái Kim Đỉnh, sinh ngày 24/10/1926 (tuổi Bính Dần) tại làng Tường Xá, tổng Thịnh Quả, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ (nay là xã Đức Minh, tỉnh Hà Tĩnh) trong một gia đình nhà Nho, cụ cố, ông nội và thân sinh đều là những người uyên thâm Nho học. Trải qua thời niên thiếu tại nhà người bác ruột, đắm mình trong những pho sách cổ ngả màu thời gian, niềm say mê với vốn cổ và di sản văn hóa quê hương đã tự nhiên thấm sâu vào tâm hồn cụ từ những ngày thơ bé.

Điều đáng kinh ngạc và cũng là một nét huyền thoại trong cuộc đời cụ Thái Kim Đỉnh chính là con đường học vấn của cụ. Chưa từng qua một trường lớp trung học chính quy nào, không có học hàm, học vị nhưng bằng một tinh thần tự học kiên trì mà cụ thường khiêm tốn tự nhận là “học mót” qua sách vở và đời sống, cụ đã vượt lên thành một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian uyên bác, thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn.

Năm 1945, khi mới 19 tuổi, cụ đã là Bí thư Thanh niên cứu quốc xã Tường Xá, tham gia Ủy ban khởi nghĩa và UBND lâm thời xã. Năm 1946, cụ vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản. Năm 1947, cụ làm cán bộ Phòng Tuyên truyền huyện Đức Thọ, rồi trải qua nhiều vị trí công tác ở Ban liên lạc Bắc Trung Bộ, Bưu điện Liên khu 4, Công đoàn Hà Tĩnh, Đoàn thanh niên huyện Đức Thọ, công trường đê La Giang, Ty Tuyên truyền và Ty Văn hóa Hà Tĩnh.

Năm 1956, cụ là một trong những thành viên sáng lập Chi hội Văn nghệ Liên khu 4, kề vai sát cánh cùng những tên tuổi lớn của văn học nghệ thuật nước nhà như Trần Hữu Thung, Hoàng Trung Thông, Minh Huệ, Xuân Hoàng, Vĩnh Mai, Lương An, Minh Hiệu, Lưu Trọng Lư... Kinh qua nhiều chức vụ ở Ty Văn hóa Hà Tĩnh, Hội Văn nghệ Hà Tĩnh, cụ luôn là người giữ lửa cho phong trào văn nghệ quê nhà.

Từ tiếng thơ Vũ Hoàng đến bước ngoặt hiến mình cho vốn cổ dân gian

Ít ai biết rằng, trước khi trở thành một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian danh tiếng, cụ từng là một nhà thơ tài hoa với bút danh Vũ Hoàng. Những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tên tuổi Vũ Hoàng quen thuộc với nhiều chiến sĩ nơi tuyến đầu. Nhiều bài thơ của Vũ Hoàng được những người lính trẻ chép tay trước khi bước vào chiến trận: “Thành phố ta tre còn nhiều hơn sắt/Trên đồng quê trâu hì hục kéo cày/Bới hạt cơm máu bẫm đầu tay…”.

Năm 1974-1975, sau khi xuất bản tập thơ “Cỏ mật - Nhịp cầu”, cụ dứt khoát đưa ra một quyết định bất ngờ: Khép lại con đường thi ca chuyên nghiệp. Trong buổi ra mắt tập thơ, cụ thổ lộ chân thành rằng, thơ ca đòi hỏi sự nhạy cảm tinh tế của tuổi trẻ, còn công việc sưu tầm, điền dã và nghiên cứu văn hóa dân gian mới thật sự hợp với cái “tạng” và tư chất của cụ. Dù nhà thơ Trần Hữu Thung từng khuyên cụ nên dành thời gian chỉnh sửa để in thêm các tập thơ mới, cụ vẫn mỉm cười tự nhận mình là người “tự biết mình”, thà từ bỏ cái không thuộc về thế mạnh để dồn toàn bộ tâm lực cho kho tàng di sản dân tộc.

Chính sự chuyển hướng quyết liệt ấy đã đem đến cho xứ Nghệ một nhà địa phương học đáng kính. Cụ được giới nghiên cứu tôn vinh là một trong “Tứ trụ Hán Nôm Nghệ Tĩnh“ (Trần Hữu Thung - Thái Kim Đỉnh - Võ Hồng Huy - Nguyễn Hưu) và là cây đại thụ của văn hóa Hà Tĩnh.

Gia tài trước tác đồ sộ và tinh thần lao động khoa học nghiêm cẩn

Những ai từng có dịp ghé thăm ngôi nhà nhỏ số 17, ngõ 12 trên đường Xuân Diệu (TP Hà Tĩnh cũ) đều không khỏi ngỡ ngàng trước thư phòng của cụ. Dưới mái nhà cấp bốn giản dị, chạy dọc bức tường phòng khách là một gia tài đồ sộ gồm hàng nghìn cuốn sách và tài liệu được sắp xếp vô cùng ngăn nắp, khoa học. Ở đó, hình ảnh một cụ già ngoài bát thập vẫn lặng lẽ ngồi bên chiếc bàn gỗ, dùng chiếc kính lúp soi từng dòng chữ Hán Nôm mờ nét trên giấy, ảnh đã trở thành biểu tượng của tấm gương hết lòng vì di sản văn hóa xứ Nghệ.

Hơn nửa thế kỷ miệt mài điền dã và khảo cứu, cụ đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ với hơn 90 đầu sách đã xuất bản (trong đó có trên 30 cuốn in riêng và chủ biên) cùng hàng nghìn trang bản thảo chép tay chưa kịp công bố. Di sản của cụ bao quát rộng lớn trên nhiều lĩnh vực: Từ văn học, văn hóa dân gian, Hán Nôm, lịch sử cho đến địa chí. Nhớ sau khi cụ Thái Kim Đỉnh mất, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã chỉ đạo Ban Tuyên giáo chọn lọc ấn hành hai công trình giá trị: “Bốn thi sĩ trong phong trào Thơ mới” và bộ “Tuyển tập Thái Kim Đỉnh” gồm 7 tập.

Thái độ làm việc của cụ Thái Kim Đỉnh là sự kết hợp giữa sự nghiêm cẩn của một nhà khoa học và sự đa cảm, tinh tế của một nghệ sĩ. Cụ không bao giờ đưa ra những nhận định cảm tính; mọi quan điểm đều dựa trên căn cứ lý luận, thư tịch cổ và thực tiễn điền dã. Có những tư liệu về “Truyện Kiều” cụ dày công sưu tầm từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, nhưng phải qua hơn 30 năm kiểm chứng, đến năm 2010 mới chính thức công bố.

Cụ đã được trao tặng nhiều giải thưởng cao quý: Giải thưởng VHNT Nguyễn Du (với các Giải nhất, nhì, ba và Giải Cống hiến), Giải thưởng VHNT Hồ Xuân Hương, Giải thưởng Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và Giải thưởng của Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam.

Người đi bộ ba phần tư thế kỷ và tấm lòng khoáng đạt đời thường

Trong đời sống thường nhật, cụ Thái Kim Đỉnh là một nhân cách đặc biệt. Bạn bè và hậu sinh thường gọi cụ là “Người đi bộ ba phần tư thế kỷ” bởi suốt cả đời mình, cụ không hề biết đi xe đạp hay xe máy. Dù đi đâu, ở thành phố hay về các làng quê xa xôi, cụ đều cuốc bộ hoặc nhờ con cháu, bạn bè chở đi. Chính đôi chân bền bỉ ấy đã đưa cụ đến hầu khắp các ngõ ngách, từ xóm làng ven sông La, sông Lam, lên đỉnh Ngàn Hống, cho đến những đình, đền, chùa, miếu cổ kính khắp xứ Nghệ. Cụ hòa mình vào đời sống nông dân, ngồi cùng các cụ già lắng nghe từng câu ví giặm, nhặt nhạnh từng mảnh chuyện dân gian để làm giàu cho các công trình nghiên cứu của mình.

Nhà văn Đức Ban từng nhận xét rất tinh tế về cụ: “Thái Kim Đỉnh là người sâu sắc, kỹ lưỡng trong làm và khoáng đạt đến nhẹ tĩnh trong chơi”. Trong giao tiếp, cụ rất bình dị, chân thành. Cụ xưng “mình” và gọi bạn đọc, nhà báo là “o”, “chú” vô cùng thân thương. Cụ chưa bao giờ giấu nghề, bất kỳ ai tìm đến hỏi về lịch sử, văn hóa hay xin tư liệu, cụ đều tận tình chỉ bảo, tặng sách và giảng giải cặn kẽ. Những năm làm Tạp chí Văn hóa Hà Tĩnh, tôi đã không biết bao lần đến gặp cụ và dẫn người đến gặp cụ để hỏi về những vấn đề văn hóa, học thuật và được cụ chỉ bảo tỉ mẩn.

Cụ có những tình bạn văn chương vô cùng thắm thiết. Với nhà thơ Trần Hữu Thung, hai ông vừa là bạn nghiên cứu vừa là bạn thơ hóm hỉnh, từng làm thơ trêu đùa nhau về cái nghèo và cái sự "cậy nhờ vào vợ". Với nhà nghiên cứu Võ Hồng Huy, cụ kém 1 tuổi và luôn dành sự kính trọng sâu sắc đối với tài năng, nhân cách của bạn. Khi nhà nghiên cứu Võ Hồng Huy qua đời, cụ lặng lẽ đi tiễn đưa và viết bài báo xúc động “Võ Hồng Huy và hành trình thầm lặng”.

Và có một điều rất đáng nói là đằng sau sự nghiệp đồ sộ của cụ là bóng dáng dịu dàng, nhẫn nại của một người phụ nữ, bà Miên. Người vợ đầu của cụ chẳng may qua đời sớm; người vợ thứ hai, bà Miên, đã đồng hành, chăm sóc cụ từng cốc nước, bữa ăn, sẻ chia mọi thăng trầm để cụ yên tâm cống hiến trọn đời cho con chữ. Cụ vẫn thường tếu táo bảo với bạn bè: “Người vợ quá cố giúp mình có điều kiện để học, còn người vợ hiện tại lại giúp mình để làm việc”.

Mỗi khi lật mở “Từ điển tiếng Nghệ”, “Làng cổ Hà Tĩnh”, “Chùa cổ Hà Tĩnh” hay “Năm thế kỷ văn Nôm người Nghệ”…, người đọc vẫn như thấy hình bóng lặng lẽ, hiền từ nhưng rất tỉ mẩn của cụ với chiếc kính lúp tròn bên những thư tịch, tài liệu cổ. Tròn 100 năm sinh của cụ viết vài lời về cụ để tỏ tấm tình trân quý với một cây đại thụ của văn hóa xứ Nghệ.

THÁI VĂN SINH

Xuất thân trong một gia đình Nho học tại làng Tường Xá, phủ Đức Thọ, nhà nghiên cứu văn hóa Thái Kim Đỉnh đã chọn con đường tự học bền bỉ để trở thành một học giả uyên bác. Dù chưa từng qua trường lớp trung học chính quy hay sở hữu học hàm, cụ vẫn thông thạo cả Hán văn lẫn Pháp văn nhờ những năm tháng miệt mài bên trang sách cổ. Tinh thần tự học phi thường đó đã tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp gìn giữ di sản dân tộc sau này. Sớm giác ngộ cách mạng từ năm 1945 và đứng vào hàng ngũ của Đảng năm 1946, cụ từng đảm trách nhiều vị trí công tác tuyên truyền và văn hóa trên quê hương Hà Tĩnh. Đến năm 1956, cụ trở thành một trong những thành viên sáng lập Chi hội Văn nghệ Liên khu 4, kề vai sát cánh cùng những tên tuổi lớn như Trần Hữu Thung, Hoàng Trung Thông, Minh Huệ và Lưu Trọng Lư. Những đóng góp tổ chức của cụ đã đặt nền móng bền vững cho phong trào văn nghệ khu vực Bắc Trung Bộ suốt thời kỳ kháng chiến. Ít ai biết trước khi chuyên tâm với vốn cổ, cụ từng là nhà thơ Vũ Hoàng nổi tiếng với nhiều tác phẩm được bộ đội tuyến đầu chép tay nơi trận mạc. Giai đoạn 1974 - 1975, sau khi ra mắt tập thơ Cỏ mật - Nhịp cầu, cụ dứt khoát khép lại sự nghiệp thi ca vì nhận thấy công việc điền dã và khảo cứu mới thực sự phù hợp bản thân. Quyết định chuyển hướng quyết liệt ấy đã đem đến cho vùng đất xứ Nghệ một nhà địa phương học tận tụy, mẫu mực và đáng kính.
amung