Bỏ qua điều hướng
•

Nhớ nắng

Nhớ nắng
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Nhà phê bình người Mỹ Hillis Miller đã nói rất hay về sương và bùn trong tiểu thuyết “Bleak House” (Ngôi nhà ảm đạm) của nhà văn người Anh Charles Dickens. Theo đó, bùn là tổng hòa hai nguyên tố nguyên thủy đất và nước, còn sương là của khí và nước, vậy nên sương và bùn tạo cảm giác về một thế giới ...

Còn tôi, mỗi lần gặp một thứ nắng đủ dữ dội, lại thấy mình đang đi gần hơn về buổi đầu của thế giới.

Tôi không nhớ năm ấy mình bao nhiêu tuổi. Chỉ nhớ con sông đầu làng vốn rộng cỡ một gang tay vậy mà cả tuổi thơ tôi không bơi qua nổi. Năm đó mùa đại hạn kéo dài, con sông trơ đáy, nứt toác. Đất nẻ ra từng đường ngoằn ngoèo, sâu hoắm. Tôi đi chân trần qua lòng sông mà cứ thấy mình như đang đi trên một thân thể vừa bị rút hết máu, đang đi giữa một địa tầng cổ xưa của trái đất.

Ký ức của con người thường bắt đầu từ những lần thế giới bỗng khác đi. Như đứa trẻ là tôi ngày ấy lần đầu nhìn thấy dòng sông biến mất sẽ nhớ rất lâu. Cũng như lần đầu nhìn thấy một cái cây bị sét đánh, một cái tường nhà hàng xóm mới xây bị ngã nhào bởi lụt dâng cao, xóm làng ngập ngụa giữa mênh mang nước bạc. Trong những khoảnh khắc ấy, thiên nhiên trở về là chính nó. Nó tuyệt nhiên vô ngã. Nó không mang cảm xúc của con người, không chiều chuộng cũng không trừng phạt gì cả.

Những năm sau này, mỗi lần gặp nắng dại, tôi lại nhớ lòng sông năm ấy. Thì ra, nước không chỉ nuôi dòng sông, mà còn gìn giữ cho nó một vẻ kín đáo đến bí ẩn. Khi nước rút hết, lòng sông trần trụi trống rỗng đến thương.

Cái trống hoác của lòng sông xứ lụt, lạ thay, lại liên thông với cái khoảng trống hun hút trong gia phả nhà tôi. “Nhất Đồng Nai, nhì hai huyện.” Hai huyện là Quảng Ninh và Lệ Thủy thuộc tỉnh Quảng Bình (cũ) của tôi. Còn Đồng Nai, nơi ấy có bác tôi. Bác là trai thứ bảy, còn ba tôi là trai út, trong gia đình mười người con cả gái lẫn trai của ông bà nội. Sau 1954, khi lập gia đình chưa được bao lâu, bác cùng vợ dắt díu nhau vào Nam. Một ngày buồn như mọi ngày buồn trong dằng dặc tuổi thơ im lặng, với sự tò mò tọc mạch con trẻ, tôi gặp một tấm ảnh đen trắng ố màu rơi ra từ mặt sau khung ảnh thờ ông nội trên ban thờ nhà tôi.

Tấm ảnh cỡ khoảng 6x10cm, chụp một gia đình đông con, đứa tay xách đứa nách mang, dưới nắng, với dòng chú: "Đây là gia đình anh Phu, tôi gặp ở Buôn Ma Thuột ngày... tháng... năm..." Phu là tên bác tôi. Chắc là một người thân quen nào đó đã tình cờ gặp gia đình bác, rồi mang tấm ảnh chụp về cho ba tôi, ba bỏ vào phía sau khung ảnh thờ ông nội, để cất giữ, cũng là để ông biết mà vui. Tấm ảnh này đầy dâng lên trong đứa trẻ là tôi lúc ấy một nỗi buồn xa ngái, biệt ly, phiêu bạt, và càng kích hoạt sự hăm hở khám phá của tôi về những ngóc ngách hang hốc còn bí ẩn trong chính ngôi nhà của mình.

Sau đó không lâu thì ba nhận được lá thư của chị con bác, báo tin rằng bác đã mất, lúc đó bác còn khá trẻ.

Hè năm hết lớp Bảy, tôi có chuyến đi xa đầu tiên. Thôn Thái Thiện, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Anh con bác đưa ba và tôi lên đồi thăm mộ bác. Tôi cứ nghĩ về chuyện hai anh em ruột sinh ra và lớn lên dưới một mái nhà, rồi biền biệt chia xa, rồi gặp lại nhau trong tình cảnh người âm kẻ dương. Tôi không thể nghe được những gì ba thầm thì nói riêng với bác trong khi thắp hương.

Rồi ba gửi tôi lại cho bác gái để vào Sài Gòn, hẹn cùng gặp nhau ở Cam Ranh. Tôi chẳng thấy mình bơ vơ giữa một vòm trời đầy nắng lạ, nơi căn nhà gỗ bên mép cánh đồng thẳng cánh cò bay, bởi hai cậu bạn vừa mới gặp đã lấy xe đạp chở tôi vào cánh rừng bôm bốp. Con đường đỏ au bụi đất. Gió nóng hầm hập. Vừa đến nơi, tôi buột miệng kêu: “Nắng quá!” Hai cậu chẳng nói chẳng rằng, nhanh tay chặt cành, bẻ lá. “Làm chi vậy?” “Thì làm chòi để mình đỡ nắng chớ chi!”

Đến giờ tôi gần như không nhớ khu rừng (hay ruộng) hôm ấy trông như thế nào, ngoài cây bôm bốp chi chít quả tựa những chiếc đèn lồng bé xíu thì còn những cây gì nữa. Nhưng cái chòi che nắng và đại từ “mình” mà hai cậu bạn hồn nhiên thân tình dùng để gọi tôi thì tôi nhớ mãi. Cậu đen nhẻm tên Bình, cậu trắng trẻo tên An. Gần bốn mươi năm rồi, nay hai cậu ở đâu, có bình an?

Nguồn: Pinterest

Từ Đồng Nai, tôi theo bác gái ra nhà o tôi ở Cam Phước, Cam Ranh, Khánh Hòa. Rồi ba từ Sài Gòn ra đó. O dượng dẫn mọi người rồng rắn đạp xe đi Suối Cát thăm một người o khác. Nắng chang chang. Hai bên đường là những cánh đồng cát trồng sắn, mà trong này gọi là mì. Nắng từ trời đổ xuống, cát lại hắt nắng ngược lên. Người đi giữa đường như thể đang trôi giữa hai mặt trời.

Hết đồng nắng, một con đường cát lún trong làng dẫn chúng tôi đi ngang qua một tiệm sách. Gọi là tiệm cho sang, chứ thực ra là một cái chòi gỗ nằm giữa ngã ba đường, mọi thứ đều cũ kĩ, ngả màu vàng đất, kể cả anh thanh niên hiền khô nằm võng bán hàng. Tôi cứ không thôi thắc mắc, rằng ai mua sách xứ này. Rồi tôi xin ba mua đại hai cuốn, như là vật chứng cho lần đầu tôi chạm ngõ một tiệm sách - tiệm sách buồn nhất mà tôi từng gặp từ bấy đến nay.

Đến nhà người o, trong đầu tôi hiện lên ngay cái tên cuốn sách “Khoảng trống trong rừng” mà tôi từng đọc như bị thôi miên. Có lẽ vì căn nhà ấy nằm lọt thỏm giữa một khu vườn cây trái đủ loại, vòm cây cao như vòm trời. Nhưng điều khiến tôi ám ảnh hơn cả lại là cái giếng. Nó sâu đến mức dường như mắt người không còn nhìn thấy gàu chạm nước, dường như ngay cả ánh nắng cũng phải dừng lại miệng giếng để lấy hơi trước khi rọi xuống. Cái giếng như một hố đen thời gian, hút ngược mọi nóng bỏng của vạn vật vào lòng sâu tĩnh lặng của nó. Đó là nguồn nước hiếm hoi giữa xứ cát này.

Cái giếng ấy sâu nhất trong ký ức tôi, bởi ký ức luôn có thước đo riêng của nó.

Một năm nào đó tôi đến Sầm Sơn. Anh bạn nhiếp ảnh gia từ Thái Nguyên xuống chở tôi đi thăm thú, săn ảnh. Xưởng đóng tàu phơi mình dưới nắng cứ như trong phim tài liệu cũ. Những bộ khung tàu gỗ ngả màu. Mùi nhựa thông, mùi dầu máy, mùi gỉ sắt, mùi mắm và mùi nắng trộn vào nhau thành một thứ mùi vừa gụi gần vừa xa vắng.

Chúng tôi đi qua những con ngõ quanh co không một bóng người. Vắng đến mức đang đi trong một khu dân cư mà tôi lại thấy mình như đang đi giữa phần hậu trường của cuộc sống. Thi thoảng ra khỏi ngõ là gặp những con thuyền úp mặt, những mắt lưới nhễ nhại dưới nắng.

Rồi chúng tôi đến Bến En. Ấn tượng về nơi đây không phải là tính chất hùng vĩ hay hoang vu, mà ở đó mọi thứ đều hiện ra rất sơ nguyên. Mỗi gợn sóng như câm nín giữ riêng cho mình một mặt trời nhỏ.

Hè năm nay, tôi và con gái có dịp đến Buôn Ma Thuột. Tôi cứ bị ám ảnh bởi những quả sầu riêng phơi mình dưới nắng, chính xác hơn là núp mình dưới những cành lá. Phải chăng, ai trong đời cũng là một khối sầu khuất bóng thiều hoa.

Xưa Đăm San đi bắt Nữ thần Mặt trời suy ra cũng là để tự giải cứu mình khỏi vũng tối định mệnh. Còn tôi đi dưới cái nắng Buôn Mê hôm nay đang có ý tìm dấu vết người thân giữa trùng trùng gió xóa. Gia đình bác tôi từng lưu trú ở đâu giữa cao nguyên cỏ dại này?

Đứng bên sông Sêrêpốk, dưới cái nắng cái gió đại ngàn, chẳng hiểu sao tôi lại nhớ đến lòng sông mùa đại hạn cũ xưa. Một nơi đầy nước. Một nơi không còn nước. Hai cảnh tượng trái ngược, nhưng đều đưa tôi về cùng một cảm niệm, rằng thế giới này đã có mặt từ rất lâu trước khi mình sinh ra, và sẽ còn tiếp tục rất lâu sau khi mình đi khỏi.

Đọc lại “Người xa lạ” của nhà văn người Pháp Albert Camus (Nobel văn chương, 1957), tôi càng hiểu vì sao mặt trời trong cuốn tiểu thuyết ấy lại trở thành một biểu tượng lớn đến vậy.

Người ta thường nhớ đến phát súng của Meursault. Tôi lại nhớ nắng. Nhớ những chũm chọe của ánh sáng mặt trời đập xuống mặt biển Alger, xuống bãi cát, xuống trán người, khiến bầu trời như nứt toạc từ đầu này đến đầu kia để trút mưa lửa xuống mặt đất. Không còn là thứ nắng của thời tiết, nó là một trạng thái của thế giới. Nắng trong văn Camus không tàn nhẫn, chỉ tuyệt đối.

"Summer Crossing” (Băng qua mùa hè) là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn người Mỹ Truman Capote. Ông viết, rằng nắng nóng bổ toang hộp sọ của thành phố, để phơi trần bộ não trắng ởn và những dây thần kinh đang reo lên như dây tóc bóng đèn. Hóa ra không chỉ cánh đồng, dòng sông hay bãi cát mới có thể trở về trạng thái thoạt kỳ thủy. Chỉ cần đủ nắng, mọi lớp sơn của văn minh đô thị đều như mỏng đi. Bên dưới mọi ồn ào vẫn là sự lặng im rất cổ của trái đất.

Mỗi lần nghĩ đến nắng, tôi không nghĩ đến mùa hè. Tôi nghĩ đến một thế giới còn rất trẻ, và những con người luôn cô đơn ngơ ngác trước tuổi tác của đất trời.

Chỉ khi cái tôi chủ thể tự nguyện rút lui - như một kiểu “cái chết của tác giả” để văn bản tự cất tiếng - thì con người mới có thể buông bỏ sự kiêu ngạo của văn minh để hòa tan vào đại ngàn, vào sóng nước. Khi không còn ảo tưởng sức mạnh, cố khẳng định quyền uy của mình, ta mới thực sự thuộc về thế giới.

Lúc này, ta cũng chẳng còn thấy mình nhỏ bé giữa vũ trụ, mà chỉ đầy lên cảm giác bình yên. Bởi vì rằng mình đang sống cùng - chứ không phải đối diện hay đối lập - với trời đất.

Nhớ nắng là nhớ về thì thứ nhất của vạn vật.

Cuộc thi “Check-in Hạnh phúc” mùa 1 - “Từ đây có một tôi khác” do Báo Tiền Phong phối hợp với Công ty Cổ phần Tiền Phong tổ chức, dành cho công dân Việt Nam trong và ngoài nước, người nước ngoài đang sinh sống, học tập, làm việc tại Việt Nam.

Cuộc thi nhận tác phẩm ở 3 thể loại: Bài viết, Video và Voice.

Tác giả có thể gửi nhiều tác phẩm tham dự.

Thời gian nhận bài từ ngày 11/9/2026 đến hết ngày 11/12/2026.

Tác phẩm dự thi gửi về email [email protected], tiêu đề: Bài dự thi Cuộc thi “Check-in Hạnh phúc” - [Tên tác giả].

Thể lệ Cuộc thi và thông tin chi tiết TẠI ĐÂY

Trích dẫn góc nhìn phê bình của Hillis Miller về biểu tượng sương và bùn trong tác phẩm Ngôi nhà ảm đạm của Charles Dickens, bài viết Nhớ nắng mở ra những suy tưởng chiều sâu về sự đối diện giữa con người và thiên nhiên nguyên thủy. Ký ức về dòng sông quê hương trơ đáy nứt nẻ trong mùa đại hạn kéo dài tại vùng đất Quảng Bình trở thành mốc khởi đầu cho nhận thức về một tự nhiên vô ngã, tuyệt nhiên không mang cảm xúc trừng phạt hay chiều chuộng con người. Nhìn từ dòng nước kiệt cùng, hình ảnh lòng sông trần trụi vừa gợi mở vẻ kín đáo bí ẩn của cảnh quan, vừa liên thông trực tiếp với khoảng trống dằng dặc trong lịch sử một gia đình phiêu bạt. Từ câu ca dân gian Nhất Đồng Nai nhì hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy, câu chuyện gia đình mở ra hành trình chia biệt sau năm 1954 của người bác thứ bảy tên Phu cùng vợ con vào phương Nam. Tấm ảnh đen trắng kích thước 6x10cm tình cờ rơi ra từ phía sau khung ảnh thờ ông nội tại Buôn Ma Thuột đã ghi lại hình ảnh gia đình đông con nơi xứ lạ, lưu giữ nỗi buồn xa ngái của kiếp người lưu lạc. Lá thư báo tin người bác qua đời khi còn khá trẻ đã thúc đẩy chuyến đi xa đầu tiên của tác giả vào năm hết lớp Bảy để cùng cha vào thăm mộ. Tại thôn Thái Thiện, xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, cuộc hội ngộ âm dương giữa hai người anh em từng sinh ra dưới một mái nhà diễn ra trong không gian trầm mặc trên đồi. Những lời thì thầm của người cha bên làn hương trầm cùng hành trình tiếp nối hướng về Cam Ranh đã khép lại một ký ức tràn đầy tính biểu tượng về sự phiêu bạt. Tác phẩm không chỉ tái hiện ký ức cá nhân mà còn phản ánh sâu sắc biến thiên lịch sử cùng những đứt gãy gia phong của con người Việt Nam qua nhiều thế hệ.