Lực lượng cứu hỏa phun nước vào đám cháy tại Lầu Năm Góc sau khi máy bay bị không tặc đâm trúng ngày 11/9/2001 (Ảnh: AFP).
Trong nhiều thập kỷ qua, nhiều thế hệ lãnh đạo Mỹ lên tiếng khẳng định rằng nhiệm vụ hàng đầu của chính phủ là bảo vệ người dân. Nhưng vào ngày 11/9/2001, nước Mỹ đã hoàn toàn thất bại trong việc thực hiện điều đó. Thông tin tình báo đã có, nhưng thật bi kịch là không ai kịp xâu chuỗi các dữ kiện lại với nhau.
Vụ tấn công 11/9/2001 cùng với các biện pháp ứng phó sau đó đã trở thành bước ngoặt định hình chính sách đối ngoại, an ninh và tình báo của Mỹ, cùng các đồng minh phương Tây, trong 2 thập kỷ đầu thế kỷ XXI.
25 năm sau, nhiều cơ chế đã được cải tổ, khả năng chia sẻ thông tin được nâng lên, hàng loạt âm mưu khủng bố đã bị ngăn chặn. Tuy nhiên, những thất bại về tình báo và tính toán chiến lược vẫn tiếp diễn, đặt ra câu hỏi liệu các nước phương Tây đã thực sự rút ra đầy đủ bài học từ ngày 11/9 hay chưa.
Ngày 11/9/2001, 2.977 người đã thiệt mạng trong các vụ tấn công nhằm vào Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC) và Lầu Năm Góc. Đối với nước Mỹ, đây không chỉ là một thảm họa khủng bố mà còn là một thất bại nghiêm trọng của hệ thống tình báo.
Các cuộc tấn công này không phải ngẫu nhiên mà xảy ra và tổ chức khủng bố al-Qaeda cũng như thủ lĩnh Osama bin Laden không phải những cái tên xa lạ với các cơ quan tình báo Mỹ. Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã theo dõi mạng lưới này trong nhiều năm và thậm chí còn thành lập một lực lượng đặc nhiệm chuyên trách việc truy lùng Osama bin Laden.
Tuy nhiên, những thông tin mà CIA cũng như Cục Điều tra liên bang (FBI) và các cơ quan khác nắm giữ đã không được kết nối và đánh giá đầy đủ để nhận diện âm mưu đang hình thành.
9 ngày sau các cuộc tấn công ngày 11/9/2001, Tổng thống Mỹ khi đó là George W. Bush đã tuyên bố phát động "Cuộc chiến chống khủng bố".
Trong suốt 25 năm qua, đã có vô số thành công cũng như thất bại trong công tác tình báo ở cả hai bờ Đại Tây Dương. Những thành công đó bao gồm việc ngăn chặn các âm mưu tấn công, cũng như bắt giữ, đưa ra xét xử, kết án và tống giam các nghi phạm.
Thực tế là Mỹ cũng đã tiến hành cải tổ sâu rộng cộng đồng tình báo, thành lập Trung tâm Chống khủng bố Quốc gia và vị trí Giám đốc Tình báo Quốc gia nhằm cải thiện phối hợp giữa 18 cơ quan tình báo. Mỹ, Anh, Canada, Australia và New Zealand cũng tăng cường chia sẻ thông tin trong khuôn khổ liên minh "Five Eyes" (Ngũ nhãn).
Tuy nhiên, nhìn vào bức tranh toàn cảnh thì sao? Công tác thu thập tin tình báo, chống khủng bố và hoạch định chiến lược đã thay đổi như thế nào trong 25 năm kể từ vụ tấn công khủng bố tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ?
Những manh mối không được lắp ghép đầy đủ
Không ai có thể phủ nhận rằng vụ tấn công 11/9 là thất bại tình báo nghiêm trọng, hay cụ thể hơn, là sự thiếu hụt về năng lực hình dung các kịch bản nguy hiểm trong cộng đồng tình báo Mỹ. Vào thời điểm đó, cả CIA và FBI đều nắm giữ những thông tin mà nếu được chia sẻ đúng cách, lẽ ra đã có thể ngăn chặn thảm kịch này.
Báo cáo của Ủy ban 11/9 sau đó đã chỉ ra những "thiếu sót về năng lực hình dung, chính sách, năng lực và công tác quản lý" của chính phủ Mỹ. Theo kết luận, CIA và FBI đã không đánh giá đúng mức các tin tình báo, không chia sẻ thông tin với nhau và không thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn chặn âm mưu tấn công.
Bài học này về cơ bản đã được rút kinh nghiệm sâu sắc - dù chưa hoàn toàn triệt để - và sự phối hợp chia sẻ thông tin giữa các cơ quan tình báo phương Tây hiện nay đã cải thiện vượt bậc so với năm 2001.
Tại Anh, những căng thẳng cũ giữa các cơ quan, chẳng hạn như giữa Cơ quan tình báo MI5 (Anh) và lực lượng cảnh sát chống khủng bố, đã dần được xóa bỏ. Điều này bắt đầu bằng việc thành lập các "trung tâm hợp nhất" tại nhiều khu vực ở Anh và gần đây nhất là việc thành lập Trung tâm Điều hành Chống Khủng bố với chế độ an ninh nghiêm ngặt tại London.
Tại đây, các sĩ quan tình báo MI5 có thể ngồi ngay cạnh các sĩ quan cảnh sát - những người chịu trách nhiệm thực thi các biện pháp ngăn chặn âm mưu khủng bố. Tương tự, họ cũng có thể ngồi cạnh một đặc vụ liên bang Mỹ thuộc FBI hoặc một chuyên gia ngôn ngữ được biệt phái từ GCHQ - Cơ quan tình báo tín hiệu và an ninh mạng hàng đầu của Anh.
Kể từ sau vụ 11/9, hệ thống tình báo Mỹ cũng đã trải qua quá trình tái cơ cấu toàn diện như thành lập Trung tâm Chống khủng bố Quốc gia và vị trí Giám đốc Tình báo Quốc gia nhằm cải thiện phối hợp giữa 18 cơ quan tình báo.
Mối quan hệ giữa CIA và cơ quan tương ứng tại Anh là Cơ quan Tình báo MI6 có lẽ là mối quan hệ hợp tác chặt chẽ nhất trên thế giới. Sự hợp tác này còn được củng cố bởi liên minh "Ngũ nhãn", nơi Mỹ, Anh, Canada, Australia và New Zealand cũng tăng cường chia sẻ thông tin tình báo.
Tuy nhiên, những thất bại thảm hại về tình báo, đánh giá tình hình và hoạch định chiến lược vẫn xảy ra kể từ sau vụ 11/9.
Một trong những ví dụ điển hình là cuộc chiến Iraq năm 2003. Trong bối cảnh sức ép chính trị lớn nhằm chứng minh Iraq dưới thời Tổng thống Saddam Hussein vẫn sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt, tình báo Anh đã cung cấp cho chính phủ của Thủ tướng Tony Blair lúc đó những đánh giá sau đó được xác định là sai lệch.
Iraq thực sự từng sở hữu WMD trong quá khứ, nhưng tất cả đã bị tiêu hủy sau Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991. Cuộc điều tra của Anh kết luận rằng tình báo về chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq "có sai sót nghiêm trọng" và phụ thuộc nhiều vào những nguồn chưa được kiểm chứng.
Sau vụ việc, MI6 thay đổi cách xử lý thông tin tình báo thu thập từ các nguồn trên thực địa, tăng cường phân tách giữa khâu thu thập và khâu đánh giá, kiểm chứng. Nhưng cuộc tranh luận về bài học Iraq vẫn chưa kết thúc.
Tướng Richard Shirreff, từng chỉ huy lực lượng Anh tại Iraq, cho rằng cuộc chiến dựa trên tình báo thiếu chính xác và phương Tây không giỏi rút kinh nghiệm từ những thất bại chiến lược.
"Cuộc chiến Iraq năm 2003 dựa trên những thông tin tình báo sai lệch nghiêm trọng", tướng Shirreff nói và đặt ra câu hỏi: "Liệu chúng ta có rút ra được bài học nào không?". "Không, tôi nghĩ chúng ta rất kém trong việc học hỏi từ sai lầm... Với tư cách là một chỉ huy, tôi thấy rõ ràng rằng chúng ta đang tiến tới một thất bại mang tính chiến lược", ông nói thêm.
Cơ quan An ninh (MI5) cũng từng gặp thất bại, bên cạnh vô số thành công không thể phủ nhận trong việc ngăn chặn các âm mưu khủng bố. Trước vụ đánh bom London ngày 7/7/2005 khiến 52 người thiệt mạng, MI5 đã biết đến Mohammed Sidique Khan - kẻ sau này được xác định là chủ mưu - nhưng không nhận diện được kế hoạch tấn công của hắn. Vụ đánh bom tại Manchester Arena năm 2017 là một sự cố thiếu sót khác xảy ra gần đây hơn.
Ngày nay, mối đe dọa từ khủng bố vẫn chưa biến mất, nhưng theo lời một cựu lãnh đạo MI5: "Bức tranh tình hình đã thay đổi. Khủng bố phi nhà nước vẫn là mối lo ngại nghiêm trọng, song các mối đe dọa từ cấp độ quốc gia... đang ngày càng trở nên trầm trọng và đặt ra thách thức đối với an ninh quốc gia nghiêm trọng không kém gì khủng bố phi nhà nước".
Theo các chuyên gia, cũng có thể lập luận rằng quyết định của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc cùng Israel tấn công Iran trong năm nay là một thất bại trong việc hình dung các kịch bản tình báo.
Tất cả các đồng minh của Mỹ tại Vùng Vịnh đều nhận thức rõ nguy cơ Iran sẽ trả đũa bằng cách phong tỏa eo biển Hormuz. Những cảnh báo đã hiện hữu rõ ràng nhưng ông Trump dường như lại thiếu chiến lược đối phó khi Tehran thực hiện đúng hành động mà họ từng đe dọa, gây ra sự xáo trộn lớn trên thị trường năng lượng toàn cầu.
Vào năm 2001, công nghệ dữ liệu sinh trắc học vẫn còn ở giai đoạn sơ khai; tuy nhiên, việc ứng dụng các công nghệ nhận diện khuôn mặt, mống mắt và dáng đi sau này đã tạo ra những thách thức đáng kể trong thời hiện đại đối với việc đưa các điệp viên và người điều hành điệp viên vượt qua biên giới mà không bị phát hiện.
25 năm trước, vào ngày xảy ra vụ tấn công 11/9, các đặc vụ tình báo Mỹ thực sự nắm trong tay những mảnh ghép - một phép ẩn dụ về các manh mối khả nghi mà giới tình báo thường dùng - nhưng xét về tổng thể, họ đã không thể ghép chúng lại với nhau để nhìn rõ thảm họa đang chực chờ ập đến.
Và việc thu thập tin tức tình báo xuất sắc sẽ không có ý nghĩa gì nếu không thể tận dụng chúng để đạt được lợi thế chiến lược.
Đây là điểm mà các cơ quan tình báo luôn phải đối mặt: làm thế nào để phân biệt tín hiệu với nhiễu, làm thế nào để nhận ra một nguy cơ đang hình thành trước khi nó trở thành sự kiện không thể đảo ngược.
Một thế giới thay đổi đến mức khó nhận ra
Rõ ràng, thế giới tình báo và chống khủng bố đã thay đổi gần như hoàn toàn trong suốt 1/4 thế kỷ kể từ buổi sáng tháng 9 định mệnh ở New York năm ấy.
Với sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo (AI) và điện toán lượng tử, quá trình thay đổi này sẽ còn tiếp diễn, thậm chí với tốc độ tăng theo cấp số nhân ở một số lĩnh vực.
Một trong những thay đổi lớn nhất là lượng dữ liệu mà các cơ quan an ninh có thể tiếp cận đã tăng lên nhanh chóng. Ngày nay, thông tin có thể đến từ vệ tinh, điện thoại, mạng xã hội, camera, dữ liệu tài chính, nguồn tin con người và vô số hệ thống kỹ thuật số khác.
Nhưng điều này tạo ra một nghịch lý: càng có nhiều dữ liệu, việc xác định đâu là dấu hiệu thực sự quan trọng càng khó. Công nghệ cũng không thể tự giải quyết vấn đề cốt lõi. Một hệ thống có thể phát hiện hàng triệu dấu hiệu, nhưng con người vẫn phải quyết định dấu hiệu nào đáng quan tâm, chúng có ý nghĩa gì và cần phản ứng ra sao.
Tuy nhiên, trong một thế giới đầy rẫy những quan điểm và lợi ích xung đột, các quốc gia phương Tây không phải là bên duy nhất mắc sai lầm về tình báo, sơ suất hay tính toán sai lầm mang tính chiến lược. Đó là cuộc đột kích do Hamas phát động từ Dải Gaza vào ngày 7/10/2023, vốn dẫn đến cuộc chiến khốc liệt ở Gaza sau đó.
Suy cho cùng, những câu hỏi lớn vẫn luôn được đặt ra xoay quanh các quyết định mang tính chiến lược và tầm cỡ quốc gia.
Liệu việc Anh tham chiến cùng Mỹ trong cuộc tấn công Iraq có đúng đắn hay không? Liệu có đúng khi tham gia "Chiến dịch Tự do Bền vững" do Mỹ dẫn đầu tại Afghanistan, để rồi rời đi trong cuộc rút quân vội vã 2 thập kỷ sau đó?
Những câu hỏi này, cùng nhiều vấn đề khác, vẫn tiếp tục gây ra dư âm mạnh mẽ sau 25 năm.