Bỏ qua điều hướng
•

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích

Những người lính ở lại núi Dàng-Bài 2: Mối tình người lính quân y và nữ du kích
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Trước năm 1975, địch xem xã Hành Thịnh là một trong những cái gai rất khó nhổ. Bởi đây là một xã đồng bằng của Quảng Ngãi nhưng lại có rất nhiều ngọn núi: núi Dàng, núi Đuôi Chuột, núi Rố, núi Gò Đồn, núi và rừng Ông Đương, gò Rú. Địa thế hiểm trở vốn là lợi thế của quân giải phóng và là vùng đất ch...

Ký ức đẫm máu

Cô du kích Nguyễn Thị Bè nhìn đồng đội mà ứa nước mắt. Trong túp lều tranh, máu từ vết thương của người lính quân giải phóng Lê Văn Chín vẫn không ngừng chảy. Nằm bên cạnh là ông Sáu Hoàng cũng đang thở ngắt quãng. Ông bị một mảnh kim loại của trái đạn pháo cắt vào vùng ngực.

Bối cảnh trên diễn ra tại vùng giải phóng Hành Thịnh vào khoảng giữa năm 1971. Y sĩ Lại Vũ Yên luôn phải tiếp nhận nhiều ca bị thương như vậy. Có những ca bị thương rất nặng và không có máu để truyền. Ví dụ như ông Sáu Hoàng bị thương nặng và mọi người biết trước sẽ không qua khỏi. Giờ nhớ lại những cảnh tượng đẫm máu ấy, ông Yên lặng người đi và cho biết “có anh em bị thương nặng, khiêng chưa tới trạm xá nằm trên Hành Tín Đông thì đã chết giữa rừng rồi”.

Trong hàng ngàn ca băng bó và cứu chữa cho thương binh tại vùng tự do Hành Thịnh, chuyện của Sáu Hoàng và ông Chín luôn được ông Yên và vợ là bà Bè nhắc tới. Bởi vì câu chuyện này cho thấy sự khốc liệt của chiến tranh cũng như những người ở vùng trụ bám phải gánh chịu.

Lần đó, địch càn lên rất bất ngờ và nhiều du kích chui ngay xuống hầm bí mật nằm giữa bụi tre. Sau mấy ngày nằm hầm, du kích trồi lên vì thấy trên mặt đất đã yên ắng trở lại. Ông Lê Văn Chín và Sáu Hoàng đã vô tình dẫm phải trái mìn ống do chính lực lượng ta cài lại để cản đường tái chiếm của địch.

Bà Bè hồi tưởng, thời đó, mỗi khi trên bầu trời có tiếng vo ve liên tục của máy bay trinh sát L-19, du kích tại xã Hành Thịnh lập tức chuyển trạng thái sẵn sàng và tổ chức đốn tre, vót chông, cắm chông dọc tuyến đường. Chông được cắm xiên để nếu địch đi chệch ra khỏi đường là sập hố. Bên cạnh đó còn có mìn. Vị trí đặt mìn thường được làm dấu bằng cách cuốn vài ngọn cây cỏ tranh và gút lại, hoặc làm dấu bằng cành cây. Tuy nhiên, những chỉ dấu này không phát huy tác dụng nếu du kích di chuyển vào ban đêm, hoặc gió thổi bay các dấu vết. Có nhiều lần anh em đặt mìn, sau đó ốp miếng vỏ cây lên trên. Nhưng đôi khi gió thổi bay mất và đội đi sau cũng không nắm được, vậy là bộ đội, du kích hy sinh từ bom, mìn, pháo của cả hai phía.

Những đoàn quân… thiếu

Trong cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Hành Thịnh đã đề cập về nhiều trận càn của địch, cao điểm là từ tháng 2/1966. Trong năm đó, Tiểu đoàn 83 đã mai phục thành công trận đầu tiên. Đến năm 1970, Tiểu đoàn 7 (gần 100% bộ đội miền Bắc) từ tỉnh Bình Định được điều động ra Quảng Ngãi và án ngữ tại Hành Thịnh. Cựu chiến binh Lại Vũ Yên hồi tưởng, hồi đó vo gạo nấu cơm, có khi gần gạo nổi trên mặt nước. Bởi vì các đội cơ sở dưới biển thu gom gạo mang chôn dưới đất, anh em trên này đi 15 km xuống và cõng lên, có khi gạo tới nơi thì đã bị mốc.

Trong những chuyến đi đó, thỉnh thoảng có người lính lại rơi vào ổ phục kích của địch. Bà Nguyễn Thị Bè, vợ ông Yên hồi tưởng, có lần đi từ dưới xã Đức Minh, tới gần khu vực trục đường, đột nhiên chiếc dép cao su bị đứt quai nên bà phải dừng lại sửa. Đúng vào lúc đó, người đồng đội ở phía sau vượt qua. Nhưng mới đi thêm chục bước thì anh ngã gục bởi rơi vào ổ phục kích.

1-bai-2-cuu-chien-binh-lai-vu-yen-va-ba-nguyen-thi-be-moi-tinh-thoi-vung-tu-do-va-gio-day-da-hon-50-nam-anh-le-van-chuong.jpg
Cựu chiến binh Lại Vũ Yên và bà Nguyễn Thị Bè, mối tình và đám cưới trong chiến tranh, giờ đây đã hơn 50 năm Ảnh: Lê Văn Chương

Cựu chiến binh Đỗ Thị Mỹ Lệ nhớ lại, hồi đó cứ pháo núi Ngang bắn sang, máy bay trinh sát rè rè trước một ngày thì sáng hôm sau là lính đi càn. Có lần xe tăng đi tới mấy chục chiếc tiến vô vùng giải phóng. Có lần pháo địch không bắn trước, mà HU-1A đổi chiến thuật, ập tới bất ngờ trong lúc du kích đang tập luyện. Mọi người chạy đi nhiều phía, chạy cùng hướng, trong khi theo quy định là người chạy sau cùng phải đi ngược, xoay lưng về hướng chạy, vừa lùi vừa xóa dấu vết.

Lịch sử Đảng bộ xã Hành Thịnh ghi lại những chiến thắng tiêu biểu như chiến thắng năm 1966. Địch đưa lực lượng chủ lực lên để san bằng vùng giải phóng. Tuy nhiên du kích và quân chủ lực đã phản công, bắt sống 2 sĩ quan ngụy, thu 100 súng…

Tuy nhiên cũng có những tổn thất và giờ đây người hy sinh đang nằm ở nghĩa trang liệt sĩ, nơi đội khai quật, lấy mẫu hài cốt của Bộ đội Biên phòng Quảng Ngãi đang triển khai thực hiện. Lần hy sinh đẫm máu mà nhiều cựu chiến binh không quên, đó là du kích lượm pháo lép 105 mm của địch về để chế ra pháo bay, biến thành bẫy pháo. Do quả đạn phát nổ nên chị Nguyễn Thị Bảy và 2 người khác bị thương nặng, anh Trung hy sinh tại chỗ. Bà Nguyễn Thị Bè là người thoát chết trong gang tấc mà vẫn không quên cảnh tượng đau thương này. Bà Bè thốt lên, “dân trụ bám khổ đủ thứ là khổ, nay sống, mai chết, sáng yên, chiều pháo”.

Ðám cưới lính

Gần cuối năm 1974, có một đám cưới nhà binh diễn ra ngay tại vùng căn cứ Hành Thịnh. Đám cưới được cử hành vào ban đêm và khách dự toàn bộ là lính miền Bắc. Y sĩ Lại Vũ Yên quê Vũ Thư, Thái Bình kết hôn với cô du kích người địa phương Nguyễn Thị Bè. Giữa chiến tranh khói lửa, lính Tiểu đoàn 7 vẫn chế ra được chiếc đàn bầu để tấu lên những khúc nhạc đồng quê. Từ 19 đến khoảng 22 giờ đêm, nhiều người lính lần lượt đứng giữa vòng tròn và thể hiện giọng ca về những miền quê Thái Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng.

Chú rể Lại Vũ Yên và cô dâu cùng đứng lên đọc bài thơ cách mạng: “Trai hăng say không quên nhiệm vụ/ Gái thương chồng là gái đảm đang/ Qua sông nghiêng nón trông đồng/ Lúa bao nhiêu hạt thương chồng bấy nhiêu…”

Khoảng 10 ngày sau đám cưới, xã Hành Thịnh bị dội một trận bom pháo tơi bời. Trước đó một ngày, ông trưởng thôn đi thông báo tản cư. Vậy là các bà mẹ đặt con nhỏ lên chiếc giỏ trước, còn giỏ sau đặt túi gạo, hai bên là ba đến bốn đứa con ôm theo chiếc chiếu chạy lúp xúp qua xã Hành Tín.

2-bai-2-cuu-chien-binh-lai-vu-yen-va-nguyen-van-kiet-tung-ngay-doi-theo-viec-khai-quat-hai-cot-cac-liet-si-chua-ro-danh-tinh-anh-le-van-chuong.jpg
Ông Lại Vũ Yên và đồng đội Nguyễn Văn Kiệt từng ngày dõi theo việc khai quật hài cốt các liệt sĩ chưa rõ danh tính tại địa phương Ảnh: Lê Văn Chương

Cựu chiến binh Nguyễn Văn Kiệt, đồng đội của ông Yên cho biết, các đồng chí bộ đội miền Bắc sau năm 1975 đã kết hôn với các cô gái ở nơi đóng quân, rồi ở lại sinh sống tại quê vợ. Họ sống cuộc đời hạnh phúc vì đã từng cùng nhau ra sống vào chết, từng gắn bó với người thân, gia đình suốt thời chiến tranh.

Ngày 24/3/1975, tỉnh Quảng Ngãi được giải phóng. Ông Lại Vũ Yên được điều động vào khu vực thị trấn Đức Phổ để đóng quân, sau đó chuyển lên vùng rừng núi Sơn Hà (Quảng Ngãi). Lương lính thì hầu như không có gì, thỉnh thoảng bà Bè còn phải gửi thêm ruốc khô cho chồng trong cảnh một nách ba con.

Năm 1978, lần đầu tiên bà Bè đặt chân được ra quê chồng ở xã Tân Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Hành trình trên chuyến tàu lửa Bắc - Nam đi từ Quảng Ngãi ra tới Hà Nội mất gần 7 ngày, vì tàu chỉ tới Đà Nẵng là phải chen lấn mua vé để đi tiếp.

Mười năm sau ngày giải phóng đất nước, ông Yên mới chính thức vác ba lô trở về với gia đình và được địa phương mời ra làm Trạm trưởng Trạm Y tế xã Hành Thịnh. Sau 10 năm công tác trong ngành y tế, ông tiếp tục đảm nhận việc quản trang Nghĩa trang Liệt sĩ xã Hành Thịnh. Thỉnh thoảng người thân trong nhà lại nghe ông kể, “anh em nằm ngoài nghĩa trang linh thiêng lắm, toàn là lính trẻ, chiều hôm trước ăn cơm, tối đi đánh trận, sáng lui quân về thì đã thành liệt sĩ”.

L.V.C

Ký ức chiến trường Hành Thịnh, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi những năm 1971 ghi dấu ấn sâu sắc về sự khốc liệt và những mất mát to lớn của quân dân vùng giải phóng. Địa thế hiểm trở của vùng đất đồng bằng nhiều núi đồi vừa là lợi thế chiến thuật, vừa là nơi chứng kiến biết bao trận càn đẫm máu cùng các ca thương vong hiểm nghèo. Trong điều kiện thiếu hụt y tế trầm trọng, y sĩ Lại Vũ Yên cùng các lực lượng trụ bám đã phải nỗ lực cứu chữa cho nhiều thương binh như ông Lê Văn Chín hay ông Sáu Hoàng ngay giữa lằn ranh sinh tử. Bên cạnh sức ép từ hỏa lực đối phương, lực lượng du kích địa phương và bộ đội chủ lực còn đối mặt với muôn vàn nguy hiểm từ chông mìn cản bước cùng điều kiện sinh hoạt kiệt quệ. Những chỉ dấu mìn như ngọn cỏ tranh thắt nút hay vỏ cây rất dễ bị xóa mất trong đêm tối hoặc giông lốc, dẫn đến những tổn thất đau thương cho chính lực lượng ta. Việc bảo đảm lương thực cũng vô cùng gian khổ khi gạo mốc được vận chuyển từ vùng biển Đức Minh lên căn cứ phải vượt qua hàng chục kilômét đường rừng đầy ổ phục kích. Lịch sử Đảng bộ xã Hành Thịnh từng ghi nhận nhiều chiến công vĩ đại của Tiểu đoàn 83 hay Tiểu đoàn 7 từ Bình Định ra án ngữ, gắn liền với những tấm gương hy sinh thầm lặng. Chuyện tình giữa người lính quân y Lại Vũ Yên và nữ du kích Nguyễn Thị Bè nảy nở giữa gian lao chính là minh chứng sống động cho tinh thần thép của thế hệ đi trước. Nhìn lại giai đoạn lịch sử ấy, những câu chuyện ký ức không chỉ tôn vinh tình đồng chí bền chặt mà còn khắc họa trọn vẹn sự hy sinh vô giá cho độc lập dân tộc.