Bỏ qua điều hướng

Những phát minh "vô tình" tìm ra trong lịch sử

Những phát minh "vô tình" tìm ra trong lịch sử
Nguồn ảnh: KhoaHoc.tv

Có rất nhiều những phát minh là kết quả của một quá trình tìm hiểu, nghiên cứu với mục đích lâu dài nhưng cũng có những phát minh do một sự vô tình hữu ý nào đó. Không ít trong số chúng đã trở nên nổi tiếng và quen thuộc với cuộc sống của chúng ta. 1. LSD LSD là một loại thuốc gây ảo giác và làm tha...

Có rất nhiều những phát minh là kết quả của một quá trình tìm hiểu, nghiên cứu với mục đích lâu dài nhưng cũng có những phát minh do một sự vô tình hữu ý nào đó. Không ít trong số chúng đã trở nên nổi tiếng và quen thuộc với cuộc sống của chúng ta.

1. LSD

LSD là một loại thuốc gây ảo giác và làm thay đổi tâm trạng hay nói toạc ra là 1 loại ma túy gây ảo giác cực kỳ mạnh. LSD không vị, không mùi, và không màu. viết tắt của Lysergic Acid Diethylamide. Ít người biết rằng đây là một phát minh tình cờ của nhà hóa học người Thụy Sĩ Albert Hofmann.

Albert hofmann
Albert Hofmann

Từ nhỏ, Albert Hofmann đã thích khám phá những bí ẩn của tự nhiên, lớn lên ông theo học tại khoa hóa trường đại học Zurich - Thụy Sĩ với mong ước trở thành một nhà hóa học xuất sắc. Năm 1929, Albert Hofmann đã bảo vệ xuất sắc khóa luận tiến sỹ cho chuyên ngành của mình, khi đó ông mới 23 tuổi. Sau khi tốt nghiệp, tiến sĩ trẻ tuổi này vào làm việc tại hãng dược Sandoz ở Basel - Thụy Sỹ với công việc chính là nghiên cứu chế tạo các loại thuốc. Khi tiến hành bóc tách một loại nấm trên cây lúa mì, đột nhiên ông cảm thấy đầu óc chao đảo và tinh thần rơi vào trạng thái mơ màng, đầu xuất hiện những hình ảnh “tuyệt vời”, những hình dạng màu sắc rực rỡ. Ông nghi ngờ rằng mình đã hít phải chất liên quan đến LSD-25, một chất được nghiên cứu 5 năm trước. Sau đó, ông đã tiếp tục nghiên cứu và cho ra đời một chất mới mang tên tên LSD.

Thử nghiệm trên chính mình, ông rơi vào một trạng thái điên rồ, mất cảm giác và không biết mình đang làm gì. Albert Hofmann biết rằng LSD là một chất hủy hoại thần kinh ghê gớm nhưng ông cũng hy vọng rằng loại chất này sẽ có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực y học, đặc biệt là lĩnh vực tâm thần học.

Tuy nhiên mong mỏi của nhà khoa học chỉ được thực hiện phần nào và chủ yếu một bộ phận thanh niên đã lạm dụng chúng như ma túy và gây ra những ảnh hướng xấu cho toàn xã hội. Cuối cùng nó đã bị cấm sử dụng ở hầu hết các quốc gia. Thậm chí nó còn mang danh là một “phát minh ác độc”.

2. Bỏng ngô

Bỏng ngô

Loại đồ ăn yêu thích này được tình cờ phát minh ra bởi Will Keith Kellog. Ông giúp đỡ anh trai mình là John - quản lý viện điều dưỡng Battle Creek ở Michigan tìm kiếm lương thực cho bệnh nhân theo đạo ăn kiêng.

Will chịu trách nhiệm về bột làm bánh trong ngày nhưng một lần ông lại vô tình để bột mì luộc ở ngoài trời. Cho đến lúc ông quay lại, chúng đã trở nên gần như ôi thiu. Nhưng thay vì vứt đi, hai anh em đã cho chúng vào máy cán và thu được nhiều mảnh vụn. Sau khi đem nướng lên và cho mọi người ăn thử. Ngạc nhiên thay, chúng được yêu thích bất ngờ. Sau đó, Kellog đã bắt tay vào thử nghiệm với ngô và sản xuất trên quy mô lớn để kinh doanh. Will đã tách ra khỏi anh mình và thành lập ra công ty Battle Creek Toasted Corn Flake, tiền thân công ty Kellog sau này. Qua thời gian, bỏng ngô đã thành một loại đồ ăn thông dụng không chỉ ở nước Mỹ mà còn trên toàn thế giới.

3. Thuốc nổ

Alfred Nobel là người đã tạo nên thuốc nổ. Ông là một kỹ sư người Thụy Điển và còn được biết tới như người sáng lập ra giải thưởng Nobel.

Sau vài lần nghiên cứu về Nitroglycerin với bố, ông tìm ra nguyên lý của thuốc nổ làm từ chất này và kinh doanh phát đạt nhờ nó. Nhưng do chủ quan về tính an toàn, ngày 3 tháng 9 năm 1864, nhà máy của Nobel phát nổ, rất nhiều công nhân thiệt mạng, trong đó có cả Emil, em Nobel. Sau lần tai nạn đó, thuốc nổ hầu như bị mọi người bác bỏ, nhưng Nobel vẫn thử nghiệm những phương pháp nổ và lưu trữ chất nổ.

Thuốc nổ

Một số người nói rằng trong quá trình nghiên cứu dựa trên vụ tai nạn, Nobel đã tìm ra chìa khóa để ổn định thuốc nổ. Cỏ vẻ như trong quá trình vận chuyển Nitroglycerin một trong các hộp đã làm rò rỉ chất lỏng này. Ai cũng biết rằng Nitroglycerin nguy hiểm nhất khi ở dạng lỏng, chính vì vậy nên việc sử dụng chất nổ dạng này rất dễ gây tai nạn. Nobel đã phát hiện ra một loại hỗn hợp đá trầm tích hoàn hảo để hấp thu chất nổ lỏng. Rất khéo léo, Nobel đã phát triển một công thức cho phép chất này hấp thu thuốc nổ mà không làm ảnh hưởng sức mạnh của nó. Ông đã được cấp bằng sáng chế sản phẩm năm 1867, đặt nền móng cho một cuộc cách mạng về vũ khí.

Ngày 27 tháng 11 năm 1895 tại Câu lạc bộ Thuỵ Điển - Na Uy ở Paris, Nobel đã ký chúc thư cuối cùng của mình và để phần lớn số tài sản thành lập các giải Nobel, trao hàng năm cho bất kỳ ai không phân biệt quốc tịch. Ông chết sau một cơn đột quỵ ngày 10/12/1896 tại Sanremo, Ý. Số lượng tiền mặt dành cho Quỹ Giải Nobel là 31 triệu kronor (4.223.500,00 USD).

4. Saccharin

Chất ngọt tự nhiên được biết tới từ rất lâu đời rồi nhưng saccharin là chất ngọt nhân tạo đầu tiên được phát minh ra. Nhà nghiên cứu Constantine Fahlberg làm việc tại Trường ĐH Johns Hopkins (Mỹ) vô tình phát hiện ra saccarin vào năm 1897 khi đang tổng hợp một loại hóa chất khác. Ông đã quên rửa tay trước khi ăn chưa và khi cầm bánh mì ăn thì ông đã thấy ngọt bất thường mặc dù đường không được thêm vào bữa ăn. Sau đó Fahlberg đã nhận ra chất ngọt này có nguồn gốc từ chất ông đang nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Ông đã tiếp tục nghiên cứu thử nghiệm và cuối cùng cho ra saccharin. Sau đó ông đã được nhận bằng sáng chế độc lập kèm theo là sự tức giận của người đồng nghiệp cùng nghiên cứu tạo ra hợp chất - Remsen.

Saccharin

Mặc dù vô tình được phát minh nhờ thói “vệ sinh kém” - một điều cấm kị khi thực hành thí nghiệm nhưng khám phá của Fahlberg đã mở rộng sự lựa chọn cho các ngành công nghiệp thực phẩm.

Nhiều năm sau phát minh của Fahlberg, saccharin được sử dụng trong nhiều loại thực phẩm, bao gồm cả chất làm ngọt nhân tạo rất phổ biến là Sweet’N Low. Từ khi được phát hiện là không chuyển hóa trong cơ thể, nó được sử dụng như một loại chất ít calo. Thực tế, 1 gram chất làm ngọt chứa ít hơn 5 calo và chúng được khuyên dùng cho những người bị tiểu đường hay có lượng đường trong máu cao.

5. Lò vi sóng

Lò vi sóng

Lò vi sóng là một vật dụng vô cùng hữu ích, gần như không thể thiếu trong những căn bếp hiện đại. Nhưng bạn có thể ngạc nhiên khi sáng chế quan trọng này là một phát minh vô tình. Hãy thử tưởng tượng việc hâm nóng đồ ăn hay là bỏng ngô trở nên mất thời gian thế nào khi không có nó?

Nhân vật sáng tạo nên lò vi sóng là Percy Spencer. Năm 1945, khi kiểm tra magnetron - một loại ống phóng năng lượng cho các thiết bị radar điện cho công ty Raytheon . Lò vi sóng là kết quả của sự quan sát trong quá trình thí nghiệm khoa học. Spencer đã chú ý thấy rằng thanh kẹo trong túi quần mình bị tan chảy khi tiếp xúc với thứ đồ ông đang nghiên cứu. Ngay lập tức, Spencer đã thử dùng các hạt ngô làm thí nghiệm và tạo ra bỏng ngô thành công. Ông đã tiếp tục phát triển nghiên cứu này và phát minh ra lò vi sóng. Hơn 65 năm, sau thời điểm được tạo ra, ở Mỹ, lò vi sóng trở thành một vật dụng phổ biến khi có mặt ở 90% các căn bếp.

Tham khảo: Howstuffworks

Lịch sử khoa học ghi nhận nhiều phát minh xuất hiện từ những tình huống bất ngờ trong quá trình nghiên cứu hoặc lao động. Một số sản phẩm ban đầu không nằm trong mục tiêu của người sáng tạo, nhưng về sau lại trở nên quen thuộc trong đời sống. Những trường hợp này cho thấy quan sát cẩn thận và việc tiếp tục kiểm chứng có thể biến một sự cố tình cờ thành một phát hiện đáng chú ý. LSD là một chất gây ảo giác mạnh, có khả năng làm thay đổi tâm trạng và trạng thái nhận thức của người sử dụng. Chất này không có vị, không mùi, không màu và là tên viết tắt của Lysergic Acid Diethylamide. Nhà hóa học người Thụy Sĩ Albert Hofmann được giới thiệu là người tình cờ phát hiện ra LSD trong thời gian làm việc tại hãng dược Sandoz ở Basel. Khi bóc tách một loại nấm trên cây lúa mì, Hofmann bất ngờ cảm thấy đầu óc chao đảo, tinh thần mơ màng và nhìn thấy những hình ảnh cùng màu sắc đặc biệt. Ông cho rằng mình có thể đã tiếp xúc với một chất liên quan đến LSD 25, hợp chất từng được nghiên cứu trước đó, rồi tiếp tục tiến hành các thử nghiệm. Sau khi thử chất này trên chính mình, Hofmann nhận thấy tác động rất mạnh và kỳ vọng nó có thể đóng góp cho y học, dù về sau LSD bị lạm dụng như ma túy và bị cấm ở hầu hết các quốc gia. Bỏng ngô được nguồn giới thiệu là kết quả của một sự cố trong quá trình Will Keith Kellog hỗ trợ anh trai John tìm lương thực cho bệnh nhân tại viện điều dưỡng Battle Creek ở Michigan. Will từng để bột mì luộc ngoài trời trong thời gian dài, khiến bột gần như bị ôi, nhưng hai anh em vẫn cho chúng qua máy cán thay vì vứt bỏ. Những mảnh vụn sau đó được nướng lên và nhận được sự yêu thích bất ngờ từ người dùng thử. Từ kết quả này, Kellog tiếp tục thử nghiệm với ngô và tổ chức sản xuất trên quy mô lớn để kinh doanh. Sau đó, Will tách khỏi anh trai và thành lập công ty Battle Creek Toasted Corn Flake, được xem là tiền thân của công ty Kellog. Theo nguồn, bỏng ngô dần trở thành món ăn phổ biến tại Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới. Alfred Nobel được biết đến là kỹ sư người Thụy Điển, người tạo ra thuốc nổ và sáng lập giải thưởng Nobel. Sau vụ nổ tại nhà máy ngày 3 tháng 9 năm 1864 khiến nhiều công nhân thiệt mạng, trong đó có Emil, em trai ông, Nobel vẫn tiếp tục nghiên cứu cách làm cho nitroglycerin an toàn hơn. Trong quá trình vận chuyển, một số hộp nitroglycerin được cho là đã rò rỉ, giúp ông nhận ra khả năng dùng một loại đá trầm tích để hấp thu chất nổ dạng lỏng. Nobel sau đó phát triển công thức giúp hỗn hợp hấp thu nitroglycerin mà không làm mất sức mạnh của chất nổ. Sản phẩm được cấp bằng sáng chế vào năm 1867 và đặt nền móng cho một thay đổi lớn trong lĩnh vực vũ khí. Nguồn cũng cho biết Nobel ký chúc thư cuối cùng năm 1895, dành phần lớn tài sản để thành lập các giải Nobel, trước khi qua đời tại Sanremo, Ý, vào ngày 10 tháng 12 năm 1896. Saccharin được xem là chất ngọt nhân tạo đầu tiên, được Constantine Fahlberg phát hiện vào năm 1897 khi ông đang tổng hợp một hóa chất khác tại Trường Đại học Johns Hopkins ở Mỹ. Sau khi quên rửa tay và cầm bánh mì ăn, Fahlberg nhận thấy bánh có vị ngọt bất thường dù không được thêm đường. Ông xác định vị ngọt bắt nguồn từ chất đang nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, rồi tiếp tục thử nghiệm để tạo ra saccharin và nhận bằng sáng chế độc lập. Lò vi sóng xuất hiện từ những quan sát của Percy Spencer trong năm 1945, khi ông kiểm tra magnetron, một loại ống phóng năng lượng dùng trong thiết bị radar của công ty Raytheon. Spencer nhận thấy thanh kẹo trong túi quần bị tan chảy khi tiếp xúc với thiết bị đang nghiên cứu, nên thử nghiệm tiếp với các hạt ngô và tạo ra bỏng ngô. Từ phát hiện đó, ông tiếp tục phát triển công nghệ, còn lò vi sóng về sau trở thành vật dụng phổ biến, được nguồn cho biết hiện diện trong khoảng 90 phần trăm căn bếp tại Mỹ.