Bỏ qua điều hướng

Những Virus máy tính làm "điên đầu" cả thế giới

Những Virus máy tính làm "điên đầu" cả thế giới
Nguồn ảnh: KhoaHoc.tv

Giữa muôn vàn “ đồng loại ”, chúng vẫn có thể “ tỏa sáng ” nhờ những nét rất riêng! Virus Elk Cloner Vào những năm 1980, loại máy tính Apple II rất phổ biến trong các trường học tại Mỹ và thật trùng hợp khi tác giả của virus Elk Cloner nhắm vào loại máy tính này lại là một học sinh. Đó cũng là loại ...

Giữa muôn vàn “đồng loại”, chúng vẫn có thể “tỏa sáng” nhờ những nét rất riêng!

Virus Elk Cloner

Vào những năm 1980, loại máy tính Apple II rất phổ biến trong các trường học tại Mỹ và thật trùng hợp khi tác giả của virus Elk Cloner nhắm vào loại máy tính này lại là một học sinh. Đó cũng là loại virus đầu tiên hướng tới các máy vi tính cá nhân trong lịch sử.

Tác giả của virus này là Richard Skrenta, người đang học lớp 9 vào năm 1982. Virus Elk Cloner khiến các máy tính bị nhiễm hiển thị một… bài thơ sau mỗi 50 lần khởi động. Ngày nay thì đây chỉ là một trò cười nhưng vào thời điểm ấy, nó thực sự gây chấn động dư luận.

Virus Conficker

Nó đã làm cho một mạng lưới máy tính khổng lồ bị nhiễm độc và sẵn sàng làm theo mệnh lệnh. Điều này đã gây ra rất nhiều lo lắng khi Conficker xuất hiện vào năm 2008.

Các chính phủ và tổ chức đã phải chi ra không ít tiền để đảm bảo rằng máy tính của họ không nằm trong “đội quân ma” của Conficker. Tuy nhiên, vẫn còn không ít máy tính đang tồn tại trên thế giới chịu ảnh hưởng của virus này và có thể một ngày nào đó sẽ nhận lệnh tấn công và một hệ thống nào đó.

Virus Brain

Brain có thể không phải là loại virus phức tạp nhất nhưng nó là kẻ đầu tiên thực sự nhắm vào các máy tính cài hệ điều hành DOS của Microsoft. Nó “ngốn” bộ nhớ của máy và khiến cỗ máy nạn nhân hiện ra thông báo đã bị nhiễm độc.

Brain còn thậm chí hiện luôn cả địa chỉ cần liên hệ nếu muốn giải quyết rắc rối, đó là một cặp anh em ở Pakistan. Những người này giải thích rằng họ không có ý định gây hại cho mọi người mà đó chỉ đơn giản là một biện pháp bảo vệ bản quyền dành cho phần mềm y tế mà họ là tác giả. Không hiểu ai đã copy những đoạn code đó và khiến virus lây lan. 

 

Virus ILOVEYOU

Virus này tấn công vào tình cảm con người khi nó được đính kèm theo các email tiêu đề ILOVEYOU. Và người ta thực sự đã bị mắc lừa rất nhiều. Khoảng 10% máy tính có nối mạng internet đã trở thành nạn nhân vào năm 2000.

Virus không chỉ lây lan qua email mà còn tự nhân bản chính nó trên ổ cứng của người dùng và tự download phần mềm ăn trộm mật khẩu về máy tính. Thế giới đã tốn mất hàng tỉ USD, tất cả chỉ vì tình yêu.

 

Sâu máy tính Morris

Khởi đầu, nó cũng chỉ là một thí nghiệm của tác giả Robert Morris, khi đó đang là nghiên cứu sinh sau đại học. Ông ta muốn thử xem mạng Internet vào thời điểm sơ khai của năm 1988 rộng lớn tới mức nào. Không phụ lòng chủ nhân, sâu máy tính Morris lây lan ra khoảng 6.000 máy tính của chính phủ và các trường đại học, khiến chúng chậm hẳn đi hoặc thậm chí bị treo.

Morris đã bị phát hiện và bị phạt, tuy nhiên có vẻ ông đã rút ra bài học. Giờ đây, Morris trở thành giáo sư tại Học viện MIT danh tiếng của Mỹ.

Virus Code Red

Virus này có tới 2 phiên bản và cả 2 đều cực kỳ nguy hiểm. Người dùng không cần phải mở file đính kèm email hay copy thứ gì để “mời” virus vào nhà, thay vì thế nó dùng luôn đường truyền Internet của họ và xâm nhập qua lỗ hổng của hệ điều hành Windows.

Sau đó, virus sẽ khiến máy tính của người dùng trở thành một dạng “nô lệ” khi kẻ gửi virus có thể nắm quyền sử dụng máy một cách toàn diện. Hắn có thể ăn cắp thông tin hay dùng máy tính đó để tấn công các máy khác.

Ngay cả Nhà trắng cũng lo ngại và phải tìm mọi cách ngăn chặn việc lây nhiễm. Tuy nhiên không phải ai cũng đủ sức làm như thế, kết quả là hơn 200.000 máy chủ đã bị nhiễm virus này vào năm 2001.

Virus Melissa

Điểm đặc biệt của virus này là nó đặt ra mốc khởi đầu cho kỷ nguyên lây nhiễm qua email. Trước đó, virus chỉ có thể “di chuyển” qua đường đĩa mềm chậm chạp và kém hiệu quả. Sau khi đã đột nhập, nó sẽ tìm tới sổ địa chỉ và tự gửi chính mình cho toàn bộ bạn bè của chủ nhân. Ai mà lại đề phòng một email của bạn bè cơ chứ, chính vì thế Melissa lây nhiễm càng nhanh chóng hơn.

Tác giả của virus thú nhận rằng anh ta viết nó cho một vũ nữ thoát y vô tình gặp ở Florida. Thật là một món quà "lãng mạn"!

Virus Nimda

Virus Nimda (viết ngược của từ Admin – người điều hành – từ thường dùng trong lĩnh vực máy tính) xuất hiện năm 2001 và nhanh chóng vươn lên chiếu trên trong bảng xếp hạng virus. Chỉ mất 22 phút để nó trở thành virus lây nhiễm rộng nhất trên Trái đất.

Nó lây lan qua các website, qua email và qua cả các lỗ hổng của hệ thống máy chủ. Nimda xuất hiện chỉ sau vụ khủng bố 11/9 chỉ khoảng 1 tuần và nó khiến người ta liên tưởng tới một vụ tấn công bằng vũ khí tin học.

Sâu máy tính Sasser

"Thành tích" của loại sâu máy tính này cũng rất ấn tượng. Vào năm 2004, nó đã khiến Lực lượng bảo vệ bờ biển nước Anh mất khả năng sử dụng bản đồ trên máy tính, làm cho hãng tin AFP nổi tiếng không thể liên lạc với vệ tinh và buộc hãng hàng không Delta hủy các chuyến bay vì hệ thống máy tính của họ không hoạt động.

Ngoài ra, các trường đại học, các tập đoàn lớn và cả các bệnh viện cũng bị tấn công. Tất cả là tác phẩm của một cậu bé 17 tuổi người Đức. Cái giá phải trả là 21 tháng án treo và tham gia một số hoạt động cộng đồng.

Virus Storm

Cái tên này xuất phát từ mẹo giúp virus lây lan. Đầu năm 2007, người ta bỗng thấy hàng loạt email về số nạn nhân trong các trận bão (storm) ở châu Âu và có một đường link tới bài viết. Thời điểm ấy, bão tố là chuyện thời sự và rất nhiều người không hề nghi ngờ khi vào trang web đó, đồng nghĩa với việc download virus về máy.

Tiêu đề thư cũng thường xuyên được thay đổi để phù hợp với thực tế. Sau đó, thậm chí nó còn biến tướng thành thư của đội ngũ hỗ trợ kỹ thuật hay thư kèm link tới các trang web đen để kích thích trí tò mò. Ngày nay, đây vẫn là cách lây nhiễm virus phổ biến nhất.

Trong lịch sử máy tính, nhiều virus từng gây chấn động không chỉ vì mức độ lây lan, mà còn bởi cách chúng xuất hiện và nhắm tới những điểm yếu rất khác nhau. Có loại bắt đầu từ trò nghịch của học sinh, có loại xuất phát từ một thí nghiệm, cũng có loại lợi dụng sự tò mò hoặc lòng tin của người sử dụng. Dù công nghệ ngày nay đã thay đổi mạnh mẽ, những câu chuyện ấy vẫn cho thấy một mã độc nhỏ có thể tạo ra hậu quả lớn đến mức nào. Elk Cloner xuất hiện vào năm 1982, nhắm tới Apple II, dòng máy tính phổ biến trong các trường học tại Mỹ thời bấy giờ. Tác giả Richard Skrenta khi đó mới học lớp 9, khiến virus này trở thành loại virus đầu tiên trong lịch sử hướng tới các máy vi tính cá nhân. Sau mỗi 50 lần khởi động, máy tính bị nhiễm sẽ hiển thị một bài thơ, hành vi ngày nay có thể xem như trò đùa nhưng từng gây chấn động dư luận. Brain không phải virus phức tạp nhất, nhưng là kẻ đầu tiên thực sự nhắm vào những máy tính sử dụng hệ điều hành DOS của Microsoft. Nó chiếm dụng bộ nhớ, khiến máy hiện thông báo nhiễm độc, đồng thời hiển thị địa chỉ liên hệ của một cặp anh em tại Pakistan. Hai người này nói Brain nhằm bảo vệ bản quyền phần mềm y tế do họ viết, nhưng những đoạn mã bị sao chép đã khiến virus lan rộng ngoài dự tính. Năm 1988, sâu máy tính Morris bắt đầu như một thí nghiệm của Robert Morris, nghiên cứu sinh sau đại học muốn kiểm tra quy mô Internet còn rất sơ khai. Kết quả vượt xa mục tiêu ban đầu, khi sâu lây lan tới khoảng 6.000 máy tính của chính phủ và các trường đại học. Nhiều hệ thống chậm hẳn hoặc treo máy, còn Morris bị phát hiện và xử phạt trước khi trở thành giáo sư tại MIT danh tiếng của Mỹ. Melissa đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát tán mã độc, bởi nó mở đầu kỷ nguyên lây nhiễm qua thư điện tử. Sau khi xâm nhập, virus tìm sổ địa chỉ rồi tự gửi bản thân tới toàn bộ bạn bè của chủ máy, khiến người nhận dễ mất cảnh giác vì email dường như đến từ người quen. Tác giả thú nhận đã viết Melissa để tặng một vũ nữ thoát y gặp tại Florida, tạo nên một câu chuyện về món quà lãng mạn rất khác thường. Năm 2000, virus ILOVEYOU đánh trúng sự tò mò và cảm xúc của người dùng bằng những email mang tiêu đề đầy hấp dẫn. Khoảng 10% máy tính kết nối Internet trở thành nạn nhân, trong khi virus vừa tự nhân bản trên ổ cứng vừa tải phần mềm đánh cắp mật khẩu xuống thiết bị. Thiệt hại toàn cầu lên tới hàng tỉ USD, cho thấy đôi khi một tiêu đề gợi tình cảm cũng đủ biến lòng tin thành cánh cửa cho mã độc. Code Red có hai phiên bản, cả hai đều nguy hiểm vì người dùng không cần mở tệp đính kèm hay sao chép dữ liệu để bị tấn công. Virus lợi dụng kết nối Internet và lỗ hổng của hệ điều hành Windows, sau đó biến máy nạn nhân thành công cụ để kẻ phát tán kiểm soát, đánh cắp thông tin hoặc tấn công những máy khác. Nhà Trắng cũng phải lo ngại trước nguy cơ này, còn hơn 200.000 máy chủ đã bị nhiễm trong năm 2001. Conficker xuất hiện năm 2008, làm lây nhiễm một mạng lưới máy tính khổng lồ và biến nhiều thiết bị thành một đội quân sẵn sàng nhận mệnh lệnh. Chính phủ cùng các tổ chức phải chi nhiều tiền để bảo đảm máy tính của họ không rơi vào mạng lưới này, bởi những thiết bị bị kiểm soát có thể được sử dụng cho các cuộc tấn công. Đáng lo hơn, bài viết cho biết vẫn còn máy tính chịu ảnh hưởng Conficker và có thể một ngày nào đó nhận lệnh tấn công hệ thống khác. Nimda xuất hiện năm 2001, với tên gọi viết ngược của Admin, thuật ngữ quen thuộc dành cho người điều hành trong lĩnh vực máy tính. Sự xuất hiện nhanh chóng của nó nối tiếp giai đoạn các virus lợi dụng mạng Internet, thư điện tử và những sơ hở trong hệ thống để lan truyền mạnh hơn trước. Từ Elk Cloner, Brain đến Nimda và Conficker, mỗi cái tên đều nhắc người dùng rằng bảo mật máy tính không thể xem nhẹ, dù mối đe dọa bắt đầu từ một bài thơ, một email hay một lỗ hổng kỹ thuật.