Bên cạnh quy mô thương mại, xuất khẩu tăng nhanh, việc thiếu tính liên kết với các tập đoàn đa quốc gia cùng những điểm nghẽn về năng lực quản trị, chi phí logistics khiến một số doanh nghiệp Việt Nam phải đứng ngoài “sân chơi” toàn cầu. Mặc dù dư địa từ các hiệp định thương mại tự do (FTA) rất lớn, nhưng để vào được chuỗi cung ứng, đòi hỏi doanh nghiệp phải triển khai linh hoạt các giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Mở rộng các điểm sáng
Là một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ kỹ thuật dầu khí, công nghiệp Việt Nam, mới đây, Tổng công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam (PTSC) thuộc Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng quốc gia Việt Nam, đã hoàn thành, hạ thủy và vận chuyển thành công 4 trạm biến áp ngoài khơi thuộc Dự án Baltica 2 (ngoài khơi Ba Lan). Sự kiện này đánh dấu lần đầu sản phẩm điện gió ngoài khơi chế tạo tại Việt Nam được xuất khẩu sang châu Âu. Thành tựu này khẳng định năng lực tổng thầu EPC của Việt Nam, đánh dấu bước tiến chiến lược của doanh nghiệp dầu khí trong chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo toàn cầu.
Với đặc thù chuyên làm hàng xuất khẩu như FOB (mua nguyên liệu, sản xuất, bán thành phẩm), ODM (thiết kế, sản xuất, bán thành phẩm), Tổng công ty May 10 từng bước khẳng định là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng và xuất khẩu sản phẩm sang hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Bên cạnh các nhãn hiệu nội địa truyền thống, gần đây đơn vị đã xây dựng được một số nhãn hiệu phục vụ mục tiêu xuất khẩu. Đơn cử như nhãn hiệu DeTheia là dòng sản phẩm cao cấp dành cho nữ giới và nhãn hiệu Generos là dòng sản phẩm dành cho giới trẻ. Với cách làm ứng dụng tối đa các nền tảng mạng xã hội và thương mại điện tử đã mang lại kết quả ấn tượng khi sản phẩm mang thương hiệu của May 10 được bán tới 19 quốc gia trên thế giới, trong đó có những thị trường khó tính như Mỹ, Anh và các nước châu Âu.
Trong hơn 30 năm mở cửa và hội nhập, Việt Nam đã từng bước trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu. Việc tham gia ngày càng sâu vào các hiệp định thương mại tự do, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển các ngành sản xuất định hướng xuất khẩu đã góp phần mở rộng nhanh quy mô thương mại. Riêng giai đoạn từ năm 2021-2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng từ 336,25 tỷ USD lên 475,04 tỷ USD. Tuy nhiên, sự gia tăng về quy mô chưa đi cùng xu hướng củng cố tương ứng và ổn định vai trò của khu vực doanh nghiệp trong nước. Năm 2025, khu vực này chỉ chiếm 22,7% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 77,3%.
Không chỉ vậy, khoảng cách còn thể hiện ở mức độ tham gia và khả năng tạo giá trị trong chuỗi, khi tỷ lệ doanh nghiệp trong nước có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu giảm từ khoảng 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023; dịch vụ chiếm khoảng 12% tổng xuất khẩu và lao động kỹ năng cao chỉ chiếm khoảng 5% lực lượng lao động trong khu vực chế biến, chế tạo. Điều đó cho thấy thách thức đối với Việt Nam ở chỗ không chỉ mở rộng số doanh nghiệp trong nước tham gia xuất khẩu, mà còn nằm ở khả năng kết nối doanh nghiệp trong nước với các chuỗi sản xuất toàn cầu và từng bước dịch chuyển sang những hoạt động có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao hơn.
Sự hiện diện lớn của khu vực FDI tạo ra dư địa để doanh nghiệp trong nước tiếp cận công nghệ, tiêu chuẩn quản trị và thị trường, nhưng khả năng trở thành nhà cung cấp và tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất toàn cầu vẫn chưa tương xứng.
Tiến sĩ Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách (Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới)
Đề cập vấn đề này, Tiến sĩ Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách (Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới) cho rằng, sự hiện diện lớn của khu vực FDI tạo ra dư địa để doanh nghiệp trong nước tiếp cận công nghệ, tiêu chuẩn quản trị và thị trường, nhưng khả năng trở thành nhà cung cấp và tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất toàn cầu vẫn chưa tương xứng. Vấn đề nằm ở tỷ lệ mua hàng trong nước mà quan trọng hơn là nằm ở chất lượng của mối liên kết. Doanh nghiệp cần từng bước nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng, cải tiến quy trình, xử lý dữ liệu, phối hợp kỹ thuật và tiến tới tham gia thiết kế, thử nghiệm, đồng phát triển sản phẩm. Do đó, điểm nghẽn không đơn thuần là thiếu kết nối với FDI, mà là thiếu những quan hệ cung ứng ổn định, đủ chiều sâu để tạo ra quá trình học hỏi, tích lũy công nghệ và nâng cấp năng lực.
Đáp ứng các tiêu chuẩn
Thực tế cho thấy, muốn đưa hàng của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng toàn cầu, gặp rất nhiều khó khăn do phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật ngày càng khắt khe của khách hàng, thị trường, trong khi doanh nghiệp Việt vốn bị “thiệt thòi” do yếu về vốn, khả năng quản trị cũng như trình độ công nghệ. Theo đại diện của AEON (Tập đoàn bán lẻ hàng đầu Nhật Bản), hơn 90% số sản phẩm bày bán trên kệ đến từ các nhà cung cấp Việt Nam. Khi mở rộng đến các địa phương mới, doanh nghiệp chủ động làm việc và đàm phán với các nhà cung cấp trong khu vực nhằm gia tăng tỷ trọng sản phẩm địa phương trong hệ thống, qua đó đóng góp trực tiếp vào sự phát triển kinh tế vùng.
Bên cạnh hoạt động thu mua, AEON còn đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam để phát triển các sản phẩm nhãn hàng riêng có chất lượng cao và giá thành hợp lý. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp vẫn chưa đầu tư đầy đủ cho nhận diện thương hiệu, vì vậy gặp khó khăn khi cạnh tranh trực tiếp với các thương hiệu lớn. Nhiều doanh nghiệp nhỏ còn lúng túng trong việc hoàn thiện hồ sơ pháp lý, chứng nhận chất lượng, nhất là công tác truy xuất nguồn gốc nguyên liệu.
Cũng theo đại diện AEON, hạn chế của doanh nghiệp Việt Nam ở chỗ chi phí vận hành logistics cao và khả năng giao hàng diện rộng còn yếu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn lúng túng trong khâu quản lý và thực thi quy trình truy xuất nguồn gốc khi thu gom nguyên liệu từ nhiều nguồn hoặc nhiều hộ nông dân. Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam cần tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn về phát triển bền vững. Không chỉ bảo đảm chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp cần đáp ứng các quy tắc ứng xử toàn cầu, bao gồm các yêu cầu liên quan đến bảo vệ môi trường, quản lý lao động, giờ làm việc và xả thải theo Bộ Quy tắc ứng xử CoC, nhất là khi tham gia sản xuất hàng gia công hoặc nhãn hàng riêng phục vụ xuất khẩu. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cung ứng diện rộng, xây dựng khả năng giao hàng và phân phối trên phạm vi toàn quốc hoặc toàn hệ thống để bảo đảm tính sẵn có của hàng hóa.
Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam cần tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn về phát triển bền vững. Không chỉ bảo đảm chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp cần đáp ứng các quy tắc ứng xử toàn cầu, bao gồm các yêu cầu liên quan đến bảo vệ môi trường, quản lý lao động, giờ làm việc và xả thải theo Bộ Quy tắc ứng xử CoC, nhất là khi tham gia sản xuất hàng gia công hoặc nhãn hàng riêng phục vụ xuất khẩu.
Theo đại diện của AEON
Phó Tổng Giám đốc Phụ trách Trung tâm mua hàng Samsung Việt Nam Cha Ji Ho cho biết thêm, từ năm 2015 đến nay, Samsung Việt Nam đã phối hợp với Bộ Công thương, chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan thực hiện hoạt động hỗ trợ cải tiến hiện trường, nâng cao năng suất và chất lượng, bồi dưỡng nhân lực chuyên môn, cũng như xây dựng mô hình nhà máy thông minh cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Thời gian tới, Samsung sẽ tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp Việt Nam theo hướng từ hỗ trợ sang cùng xây dựng năng lực, từ phát triển từng doanh nghiệp đến nâng cao sức cạnh tranh của cả hệ sinh thái. Trong đó, tập trung vào những lĩnh vực có tính nền tảng như quản trị sản xuất, công nghệ cốt lõi, chuyển đổi số, tự động hóa và phát triển nguồn nhân lực, giúp doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn không chỉ của riêng Samsung mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Cùng với đó, Samsung mong muốn Chính phủ Việt Nam tiếp tục tìm kiếm và giới thiệu các doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực và tiềm năng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời chú trọng ban hành các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư trang thiết bị công nghệ nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nhìn nhận vấn đề dưới góc độ thuế, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam Lê Thị Duyên Hải cho rằng, các mặt hàng xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực chưa mang lại giá trị gia tăng cao như gia công may mặc, chế biến thủy sản, hàng nông sản, thép,… trong khi các mặt hàng điện tử, linh kiện điện tử hầu hết thuộc các doanh nghiệp FDI. Chuỗi cung ứng toàn cầu đang có sự điều chỉnh mạnh theo hướng đa dạng hóa địa điểm sản xuất, giảm phụ thuộc vào một thị trường, tăng khả năng chống chịu và rút ngắn chuỗi cung ứng.
Chính sách thuế cần chuyển trọng tâm từ thu hút đầu tư vào Việt Nam sang nâng cấp năng lực của doanh nghiệp trong nước để trở thành một mắt xích có giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam Lê Thị Duyên Hải
Việt Nam có cơ hội tiếp nhận thêm các dự án, đơn hàng và công đoạn sản xuất dịch chuyển vào khu vực Đông Nam Á. Hiện có hơn 30.000 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chiếm tỷ trọng 3% số doanh nghiệp nhưng đã đóng góp hơn 30% số thu ngân sách từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, Việt Nam có nguy cơ trở thành địa điểm lắp ráp với giá trị gia tăng thấp, trong khi doanh nghiệp trong nước vẫn cơ bản chưa tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ cho các doanh nghiệp FDI như kỳ vọng. Vì vậy, chính sách thuế cần chuyển trọng tâm từ thu hút đầu tư vào Việt Nam sang nâng cấp năng lực của doanh nghiệp trong nước để trở thành một mắt xích có giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Chuỗi cung ứng toàn cầu đang tiếp tục tái cấu trúc, người mua có xu hướng đa dạng hóa nguồn cung và Việt Nam ngày càng xuất hiện nhiều hơn trong quá trình tìm kiếm nguồn hàng quốc tế. Việt Nam đã xây dựng được một mạng lưới FTA rộng, trong đó có các hiệp định quan trọng như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA), Hiệp định Thương mại tự do Vương quốc Anh và Bắc Ireland (UKVFTA) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Khi hàng hóa đáp ứng đúng điều kiện và quy tắc xuất xứ, người mua hàng Việt Nam có thể được hưởng ưu đãi thuế quan tại nhiều thị trường. Do đó, doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư công nghệ hiện đại, nâng cao năng suất, hiệu quả quản trị cũng như tiết giảm tối đa chi phí nhằm nâng cao sức cạnh tranh, xuất khẩu hàng hóa, từng bước khẳng định vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
THANH GIANG - HOÀNG ANH