Đường 1C được ví là nơi "sắt thép tan chảy" bởi mức độ đánh phá ác liệt trên tuyến vận tải chiến lược giữa chiến trường Tây Nam Bộ, nơi các lực lượng vẫn bám đường, đưa vũ khí, lương thực và thuốc men vượt qua vòng vây của đối phương.
Trong số những trọng điểm trên tuyến, kênh Vĩnh Tế là cửa ải đặc biệt nguy hiểm. Lòng kênh chỉ rộng khoảng 30m, nhưng hành trình từ bờ bên này sang bờ bên kia là thử thách sinh tử đối với lực lượng vận chuyển.
Do giữ vị trí quan trọng, khu vực này bị quân đội Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát gắt gao. Nhiều đồn bốt, chốt chặn và bãi mìn được thiết lập dọc tuyến; các cuộc càn quét, lùng sục diễn ra liên tục. Trên không, máy bay trinh sát thường xuyên theo dõi.
Mỗi lần vượt kênh, lực lượng vận chuyển phải đối mặt với nguy cơ bị phục kích và đánh phá. Có người ra đi không trở lại, khiến nơi đây còn được gọi là "kênh Vĩnh Biệt". Có chuyến hàng phải tổ chức vượt kênh tới lần thứ 23 mới thành công.
Những người đưa hàng qua vùng trọng điểm này phần lớn là nữ thanh niên xung phong tuổi 18-20. Họ mang vũ khí, lương thực và thuốc men từ biên giới Campuchia, vượt kênh Vĩnh Tế rồi tiếp tục đưa hàng vào chiến trường Tây Nam Bộ.
Hành trình này đang được tái hiện tại trưng bày chuyên đề "Thời thanh xuân từ Đường Trường Sơn đến Đường 1C huyền thoại", mở cửa tự do từ 25/8 đến ngày 25/10 tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Hà Nội. Trưng bày do bảo tàng phối hợp với Ban Liên lạc Cựu cán bộ Đoàn Thanh niên Việt Nam phía Nam và Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh tổ chức.

Một góc triển lãm (Ảnh: Hằng Nguyễn).
Những cô gái tuổi 18 trên đường 1C
Đường Trường Sơn, còn gọi là đường mòn Hồ Chí Minh, được hình thành từ năm 1959 để nối hậu phương miền Bắc với chiến trường miền Nam. Hệ thống gồm nhiều tuyến đường bộ, đường sông, đường ống xăng dầu và các điểm giao liên, trải qua địa hình thuộc Việt Nam, Lào và Campuchia.
Đến năm 1975, đường Trường Sơn có 5 trục dọc, 21 trục ngang, gần 20.000km đường ôtô, 3.140km đường kín, 500km đường sông và 1.967 km đường ống dẫn xăng dầu. Hơn một triệu tấn hàng hóa cùng hơn 2 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ đã được vận chuyển qua tuyến. Hơn 20.000 người hy sinh và trên 30.000 người bị thương trong quá trình làm nhiệm vụ.
Từ năm 1966, tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển bị phát hiện và phong tỏa gắt gao, gây khó khăn cho việc chi viện vào chiến trường Tây Nam Bộ. Con đường vận chuyển qua Campuchia rồi đưa hàng về chiến trường Nam Bộ vì thế trở nên trọng yếu.
Ngày 19/5/1966, Quân khu IX thành lập Đoàn 195, đặt trụ sở tại huyện Túc Mía, tỉnh Kampot, Campuchia, làm nhiệm vụ tiếp nhận hàng chi viện từ khu vực biên giới và đưa về Tây Nam Bộ. Tuyến vận tải mang mật danh 1C, là phần tiếp nối của đường Hồ Chí Minh trên bộ tại chiến trường này.

Tàu vận tải Đoàn 125 Hải quân cải trang thành tàu đánh cá trên đường vận chuyển vũ khí vào chiến trường miền Nam (Ảnh tư liệu).
Đường 1C nối từ kênh Vĩnh Tế qua Hà Tiên, Kiên Lương, Hòn Đất, Cái Sắn, Ba Đình, vượt sông Cái Lớn đến Cà Mau. Đây là hành lang vận chuyển vũ khí, hàng hóa, đưa đón cán bộ, bộ đội và thương binh.
Tháng 9/1966, Khu ủy miền Tây ra nghị quyết thành lập Đoàn Thanh niên xung phong phục vụ trên tuyến. Đến tháng 4/1967, Khu ủy Khu IX giao ông Lê Văn Bình, bí danh Năm Hạnh, Bí thư Khu đoàn Tây Nam Bộ, thành lập Liên đội I Thanh niên xung phong, chịu trách nhiệm vận chuyển vũ khí và hàng hóa từ biên giới Campuchia về miền Tây.
Sau Tết Mậu Thân 1968, lực lượng của Liên đội I có lúc lên tới hơn 800 người, phần lớn là nữ. Họ chủ yếu ở độ tuổi 18-20, đến từ Cà Mau, Sóc Trăng, Rạch Giá, Trà Vinh và Cần Thơ. Một số mới 14-15 tuổi đã khai tăng tuổi để được tham gia.
Giấu đại bác trong những chiếc ghe chở hàng
Tuyến đường 1C sử dụng ba phương thức vận chuyển gồm bí mật, bán công khai và công khai, tùy theo địa bàn và mức độ kiểm soát của đối phương.
Với phương thức bí mật, vũ khí được đưa qua những trảng trống, bãi lầy hoặc khu vực không có lực lượng kiểm soát. Những đoạn nguy hiểm phải di chuyển ban đêm, có người cảnh giới và lực lượng vũ trang bảo vệ. Thanh niên xung phong đảm nhiệm phần lớn công việc này.

Lực lượng Thanh niên xung phong, du kích xã Hoà Tú, huyện Mỹ Xuyên, Sóc Trăng, nay là Cần Thơ vận chuyển vũ khí từ "tàu không số" chi viện cho chiến trường Tây Nam Bộ (Ảnh tư liệu).
Các nữ thanh niên xung phong tuổi mười tám đôi mươi vừa vận chuyển hàng, vừa mang theo vũ khí cá nhân để sẵn sàng chiến đấu khi bị phát hiện. Họ phải băng rừng, vượt sông, đầm mình trong sình lầy, đối mặt với các cuộc phục kích và càn quét.
Với phương thức bán công khai, người vận chuyển lấy danh nghĩa chở hàng hóa và sử dụng giấy tờ hợp pháp. Vũ khí được giấu trong những chiếc ghe hai đáy có tải trọng 3-4 tấn. Mỗi ghe có thể chứa khoảng một tấn vũ khí, có chuyến chở được cả đại bác 105 mm.
Người đi trên ghe thường là nữ chiến sĩ. Nếu có nam giới, họ phải là người lớn tuổi, đi cùng vợ con hoặc cha mẹ, tạo vỏ bọc như một gia đình sinh sống bằng nghề vận tải. Phương thức này được duy trì đến tháng 6/1968 thì bị lộ và phải ngừng hoạt động.
Sau đó, lực lượng vận chuyển chuyển sang sử dụng ghe đục có tải trọng khoảng 30 tấn, mỗi chiếc có thể chở kèm 10 tấn vũ khí. Những chiếc ghe mang danh nghĩa đi buôn cá hoặc nông sản theo mùa, có đầy đủ giấy tờ.
Người điều khiển ghe thường đã đi lại trên sông nước nhiều năm, quen thuộc các đồn bốt và trạm gác. Hoạt động vận chuyển bên ngoài không khác những chuyến buôn bán thông thường, giúp vũ khí được đưa qua các khu vực kiểm soát.
Sau Tết Mậu Thân 1968, tuyến 1C bị theo dõi chặt chẽ hơn. Đối phương tăng tuần tra đường sông, tổ chức phục kích và mở nhiều cuộc hành quân nhằm triệt phá các kho tàng, điểm tiếp nhận hàng.

Thanh niên xung phong miền Tây Nam Bộ vận chuyển lương thực, vũ khí trên vùng sông nước chuẩn bị cho bộ đội vào chiến dịch (Ảnh tư liệu).
Bị thương vẫn không rời trận địa
Trong số những ký ức được giới thiệu có câu chuyện của bà Võ Tuyết Lê, cựu thanh niên xung phong trên đường 1C.
Năm 1968, bà Lê và đồng đội được giao vận chuyển hàng hóa từ Campuchia về khu vực Kiên Giang. Khi đó, đối phương phục kích nhiều đêm tại kênh Vĩnh Tế, trong khi trực thăng liên tục bay phía trên, thả bom nhằm cắt đường di chuyển.
Bà mang theo một phần thuốc, một khẩu AK và bốn băng đạn, cùng ba chiến sĩ cố thủ trong công sự hình chữ L. Dù bị thương, bà vẫn tiếp tục bám vị trí.
"Mặc dù bản thân tôi bị thương nhưng nhất quyết không rời, giữ vững trận địa", bà Lê kể.
Sau khi vượt kênh Vĩnh Tế, hàng chi viện được đưa tới xã Vĩnh Điều, trạm trung chuyển đầu tiên khi vào lãnh thổ Việt Nam. Từ đây, vũ khí và hàng hóa được vận chuyển theo nhiều hướng về các kho hậu cần của Quân khu 9 và những địa bàn thuộc Tây Nam Bộ.
Điểm cuối của đường 1C là rừng U Minh, tỉnh Cà Mau, nơi tập kết vũ khí và đặt các kho tàng. Khu vực này bị lập đồn bốt dày đặc trên sông, ném bom, pháo kích từ tàu chiến và phun chất độc hóa học. Riêng giai đoạn 1965-1966, rừng tràm Cà Mau bị rải chất độc hóa học 22 lần.
Trong thời gian hoạt động, lực lượng trên đường 1C đã vận chuyển hơn 13.000 tấn vũ khí cùng hàng nghìn tấn lương thực, thuốc men vào chiến trường Tây Nam Bộ; đưa đón hơn 30.000 lượt cán bộ, bộ đội và thương binh qua tuyến an toàn.

Các lực lượng trên tuyến tham gia hơn 200 trận lớn nhỏ. 399 thanh niên xung phong hy sinh, 327 người mang thương tật vĩnh viễn. Năm 2011, Liên đội I Thanh niên xung phong được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Bên cạnh những tư liệu về chiến tranh, triển lãm còn có chủ đề "Nghĩa tình còn mãi", giới thiệu hành trình tìm kiếm đồng đội, quy tập hài cốt liệt sĩ, trao di ảnh, xây dựng bia và đài tưởng niệm sau ngày đất nước thống nhất.