Bỏ qua điều hướng
•

PGS.TS Kiều Trung Sơn: Sứ mệnh giữ gìn bản sắc phải nhìn từ hơi thở cộng đồng

PGS.TS Kiều Trung Sơn: Sứ mệnh giữ gìn bản sắc phải nhìn từ hơi thở cộng đồng
Nguồn ảnh: VietnamNet

PGS.TS Kiều Trung Sơn cho rằng sứ mệnh gìn giữ bản sắc không nên chỉ coi là nhiệm vụ hành chính của cơ quan quản lý mà cần nhìn từ dưới lên, từ chính cộng đồng.

Ngày 2/10, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức Hội thảo "Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập quốc tế".

Hội thảo diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới sau Đại hội XIV của Đảng và triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Hội thảo do PGS.TS. Vũ Trọng Lâm, Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật), TS. Trịnh Thị Thủy - Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và TS. Đinh Thị Mai - Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đồng chủ trì.

hoithao1.jpg
TS. Trịnh Thị Thủy - Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS. Vũ Trọng Lâm khẳng định, bản sắc văn hóa ngày nay không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn di sản hay gìn giữ các giá trị truyền thống đã trở thành thước đo năng lực phát triển của quốc gia.

Đó là bài toán biến những giá trị lịch sử thành phẩm chất con người Việt Nam hiện tại, thành nguồn cảm hứng sáng tạo, sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh và sức mạnh nội sinh giúp đất nước phát triển nhanh, bền vững không mất đi bản sắc.

Dưới góc nhìn của ngành xuất bản, PGS.TS. Vũ Trọng Lâm nhấn mạnh yêu cầu làm cho các giá trị Việt Nam có sức sống mới, tiếp cận công chúng đa dạng và khẳng định vị thế trên bản đồ văn hóa quốc tế.

hoithao4.jpg
PGS.TS. Vũ Trọng Lâm.

"Lá chắn" bảo tồn và động lực phát triển bền vững từ di sản sống

Một điểm nhấn quan trọng tại hội thảo là sự dịch chuyển tư duy từ "bảo tồn cái gì" sang xác định "ai là chủ thể bảo tồn" và "bản sắc được trao truyền như thế nào". Cách tiếp cận "di sản sống" đặt cộng đồng, nghệ nhân và thế hệ trẻ vào vị trí chủ thể trực tiếp thực hành, diễn giải và làm giàu bản sắc.

Đúc kết từ 20 năm gắn bó với thực địa, PGS.TS Kiều Trung Sơn (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đặt vấn đề về khái niệm sứ mệnh gìn giữ bản sắc văn hóa.

Ông Trung Sơn cho rằng nếu chỉ coi đó là nhiệm vụ hành chính hay chức năng của các cơ quan quản lý thì chưa phản ánh hết bản chất. "Tôi muốn hướng đến một góc nhìn khác: nhìn từ dưới lên, nhìn trực diện vào những gì đang thực sự tồn tại trong đời sống cộng đồng", ông nhấn mạnh.

hoithao2.jpg
PGS.TS Kiều Trung Sơn.

Theo PGS.TS Kiều Trung Sơn, nghệ thuật biểu diễn dân gian mang hai đặc trưng cốt lõi: Tính nguyên hợp - là hệ di sản kết hợp giữa lời ca, điệu múa, âm nhạc và nghi lễ. Tính thực dụng - chỉ phát sinh khi có nhu cầu thực tế của cộng đồng (như điệu hát đón dâu của người Giáy ở Sa Pa hay tiếng khèn trong lễ hội Gầu Tào của người Mông ở Hà Giang).

Ông phân biệt rõ sự khác nhau giữa dân ca (gắn chặt với mô hình âm nhạc cố định) và diễn xướng (mang tính ngẫu hứng cao, gắn với lời nói, giọng điệu và cảm xúc tự nhiên). Chính tính chất linh hoạt và khả năng tự tái sáng tạo đã giúp nghệ thuật dân gian trở thành nội lực giúp văn hóa Việt Nam trường tồn qua hàng nghìn năm, thẩm thấu và chống chịu trước các làn sóng ngoại lai.

Trong hội nhập, nghệ thuật dân gian còn là cầu nối hiệu quả, tiêu biểu như việc các nhóm nghệ nhân Chăm tại Nha Trang chủ động tái hiện âm nhạc, vũ điệu truyền thống giới thiệu tới du khách quốc tế.

"Nghệ thuật biểu diễn dân gian không chỉ dừng lại ở việc giữ gìn những giá trị truyền thống mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước trong thời đại mới", PGS.TS Kiều Trung Sơn nhấn mạnh.

Thực tế từ xòe Thái hay nghệ thuật chèo cũng chứng minh di sản chỉ duy trì sức sống khi có môi trường thực hành và người tiếp nối. Do đó, bảo tồn cần sự tham gia tổng hòa của nghệ nhân, nghệ sĩ, cơ sở đào tạo, cộng đồng và người trẻ.

Thách thức không gian số và định hướng định hình chuẩn mực con người mới

Trong đại kỷ nguyên công nghệ, không gian số trở thành một trọng tâm thảo luận sôi nổi. Thách thức hiện nay không chỉ dừng ở việc số hóa di sản mà xây dựng năng lực văn hóa số của quốc gia: từ khả năng tạo nội dung, kể câu chuyện Việt Nam, bảo vệ bản quyền, đến việc ứng phó với nguy cơ xuyên tạc lịch sử, thông tin độc hại và sự chi phối của các nền tảng xuyên biên giới. Dữ liệu di sản cần được chuyển hóa thành học liệu, sản phẩm sáng tạo và trải nghiệm văn hóa.

GS.TS Hoàng Anh Tuấn - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN đặt vấn đề về chuẩn mực con người Việt Nam trong xã hội 5.0. Khi công nghệ thay đổi phương thức giao tiếp và tiếp nhận thông tin, bản sắc văn hóa thể hiện qua lối sống, ứng xử và trách nhiệm cộng đồng. Giữ gìn bản sắc gắn liền với xây dựng con người có năng lực sống, làm việc trong môi trường mới nhưng vẫn giữ vững giá trị nền tảng.

GS.TS Hoàng Anh Tuấn cũng gợi mở việc đưa nghệ thuật đương đại làm không gian sáng tạo mới để diễn giải giá trị truyền thống bằng ngôn ngữ hiện đại.

Bổ sung về định hướng giao lưu quốc tế, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Châm (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng giao lưu văn hóa phải là mối quan hệ hai chiều: tiếp thu tinh hoa thế giới đồng thời phát huy nội lực và tạo ra những giá trị riêng để đóng góp vào đời sống văn hóa toàn cầu.

Phát biểu tổng kết hội thảo, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy đánh giá cao các tham luận đã làm sâu sắc thêm nhận thức về bản sắc văn hóa như một quá trình vừa kế thừa, vừa sáng tạo và thích ứng.

Thứ trưởng Trịnh Thị Thủy điểm lại 5 định hướng lớn được đề xuất tại hội thảo: Hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo. Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, nghệ nhân và thế hệ trẻ. Phát triển nguồn nhân lực liên ngành (kết hợp văn hóa và kỹ năng số). Thúc đẩy chuyển đổi số có trách nhiệm.

Nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và khả năng hội nhập của các sản phẩm, dịch vụ văn hóa Việt Nam.

Các kết quả và đề xuất từ hội thảo sẽ được tổng hợp thành luận cứ khoa học, định hướng giải pháp thiết thực nhằm chuyển hóa các giá trị văn hóa giàu bản sắc thành nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia trong thời kỳ mới.

Ảnh: BTC

Tại Hội thảo "Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong hội nhập quốc tế" do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp cùng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức ngày 2/10, vấn đề bảo tồn văn hóa đã nhận được sự quan tâm sâu sắc từ các chuyên gia. Phát biểu tại sự kiện, PGS.TS. Vũ Trọng Lâm khẳng định bản sắc văn hóa ngày nay không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn di sản mà đã trở thành thước đo năng lực phát triển của quốc gia. Các giá trị lịch sử cần được chuyển hóa thành nguồn cảm hứng sáng tạo và nội lực giúp đất nước phát triển nhanh, bền vững trong bối cảnh hội nhập. Đáng chú ý, hội thảo ghi nhận sự dịch chuyển tư duy quan trọng từ việc xác định "bảo tồn cái gì" sang làm rõ "ai là chủ thể bảo tồn" và cách thức trao truyền bản sắc. Tiếp cận theo hướng "di sản sống", PGS.TS Kiều Trung Sơn cho rằng sứ mệnh gìn giữ bản sắc không nên chỉ coi là nhiệm vụ hành chính của cơ quan quản lý mà phải nhìn từ dưới lên, từ chính đời sống thực tế của cộng đồng. Theo ông, nghệ thuật biểu diễn dân gian mang tính nguyên hợp và tính thực dụng sâu sắc, chỉ phát sinh và tồn tại khi gắn với nhu cầu sinh hoạt thực tế của người dân. Sự linh hoạt cùng khả năng tự tái sáng tạo của diễn xướng dân gian chính là yếu tố then chốt giúp văn hóa Việt Nam trường tồn qua hàng nghìn năm và thẩm thấu trước các làn sóng ngoại lai. Việc đặt cộng đồng, nghệ nhân và thế hệ trẻ vào vị trí chủ thể trực tiếp thực hành sẽ làm giàu thêm giá trị bản sắc trong thời đại mới. Đây cũng là cầu nối hiệu quả để đưa văn hóa Việt Nam khẳng định vị thế vững chắc trên bản đồ văn hóa quốc tế.