Phát hiện sợi lông công và sợi kim tuyến
Trong cuộc khai quật mộ vua Lê Dụ Tông năm 1964, chuyên gia khảo cổ đã tìm thấy những tấm long bào được đưa vào quan tài khi an táng.
Các nhà khoa học có nghiên cứu bước đầu về hiện vật này nhưng chỉ dừng ở mô tả hình thức và kích thước.
Tại Hội thảo Khảo cổ học toàn quốc lần thứ 61 do Viện Khảo cổ học tổ chức tại Hà Nội ngày 15/10, hai tác giả Nguyễn Đức Hùng và Nguyễn Minh Thành đã có báo cáo về kết quả nghiên cứu.
Theo đó, hai chàng trai trẻ có cơ hội được tiếp cận 2 tấm long bào mang mã số 37168, 37169 của vua Lê Dụ Tông tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Trong vài năm qua, Nguyễn Đức Hùng và Nguyễn Minh Thành tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu những loại sợi đã được tiền nhân sử dụng.
Trong thời gian nghiên cứu, nhóm đã nhận diện được hệ thống vật liệu trên áo vua Lê Dụ Tông phong phú hơn nhiều so với các công bố trước đây.
Đức Hùng và Minh Thành cho biết, bản thân xúc động khi được tiếp cận long bào của vua để tiến hành nghiên cứu (Ảnh: Trần Thành Công).
"Qua quá trình tiếp cận hiện vật, chúng tôi phát hiện nhiều thông tin thú vị chưa được đề cập trong các nghiên cứu đã được công bố.
Trước đây, có thể điều kiện nghiên cứu còn khó khăn nên một số chi tiết chưa được làm rõ. Những phần còn bỏ ngỏ đó trở thành hướng nghiên cứu để thế hệ chúng tôi tiếp tục tìm hiểu", Đức Hùng chia sẻ.
Long bào của vua Lê Dụ Tông (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Trên tấm long bào có 3 loại sợi tơ, 2 loại sợi kim tuyến, sợi chỉ bện, sợi lông công - vật liệu chưa từng được nhắc đến trong các nghiên cứu vải sợi cổ Việt Nam.
Sợi lông công được dùng ở các chi tiết như lông mày rồng hay hỏa châu - hình ảnh quả cầu lửa gắn với rồng. Trong khi đó, các nghiên cứu trước chỉ nhắc đến sợi tơ nhuộm màu và sợi kim tuyến.
Để tạo ra loại sợi này, nghệ nhân phải sử dụng phần lông mềm trên lông đuôi công, loại bỏ phần ống cứng, sau đó quấn các đoạn lông quanh lõi tơ để tạo thành sợi mới.
Sợi lông công có độ bền khá cao. Ở những vị trí có sử dụng vật liệu này, nhiều phần vẫn được bảo tồn tương đối nguyên vẹn, chỉ một số chỗ có dấu hiệu xước hoặc đứt.
Dấu vết của lông công được sử dụng trên 2 hiện vật long bào (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
"Lông công đẹp nhờ màu xanh, đen hài hòa và có thể thay đổi màu sắc theo góc độ ánh sáng. Khi được dệt lên vải, sợi lông công giữ trọn các đặc điểm này nên tạo ra hiệu ứng bắt mắt.
Kỹ thuật này tương đồng với chế tạo "khổng tước sợi" trong dệt vân cẩm Nam Kinh thời Minh - Thanh ở Trung Quốc", anh Đức Hùng nói.
Toàn bộ long bào được tạo nên từ sợi tơ se, sợi viên kim tuyến (xoắn tròn), phiến kim tuyến (dẹt), sợi chỉ bện và sợi lông công.
Mỗi loại sợi được xếp ở các vị trí khác nhau: Nền vải được tạo thành từ sợi tơ đơn, kim tuyến tạo hoa văn, tơ se tạo hoa văn phụ, chỉ bện và sợi kim tuyến lớn dùng trong thêu, còn sợi lông công tập trung điểm xuyết ở những chi tiết đặc biệt.
Trên 2 tấm long bào có hoa văn được dệt kết hợp từ 2 loại sợi được chế tác từ vàng thật, loại có dạng xoắn và loại có dạng dẹt.
Sợi kim tuyến được làm bằng cách dát vàng thật thành những lá cực mỏng, ép lên giấy rồi xử lý bề mặt để hạn chế ảnh hưởng của độ ẩm. Sau đó, lớp vật liệu này được cắt thành những dải rất nhỏ, có loại chỉ dày khoảng 1mm.
Những dải vàng mỏng có thể được sử dụng trực tiếp hoặc xoắn quanh lõi tơ để tạo thành sợi kim tuyến dạng tròn.
"Việc tìm hiểu những kỹ thuật này không chỉ giúp nhận diện vật liệu trên hiện vật mà còn mở ra hướng tiếp cận sâu hơn về trình độ thủ công, kỹ thuật dệt may của người Việt trong lịch sử", Minh Thành nói thêm.
Trên hiện vật 37168, hoa văn được thêu bằng cách chằng chặn một loại sợi kim tuyến dạng tròn. Tại nhiều vị trí, đường kim tuyến thêu đè lên hoa văn dệt và ép phần nền tạo thành rãnh để đường viền nằm lọt vào.
Điều này cho thấy, nghệ nhân làm long bào phải trải qua nhiều công đoạn tạo hoa văn, không phải dùng một kỹ thuật duy nhất.
Dấu hiệu chỉnh sửa sau khi dệt
Một trong những điểm đáng chú ý là cấu trúc nhiều lớp trang phục. Những lớp áo được tiếp cận có sự khác biệt về kiểu cổ, chất liệu và cách bố trí hoa văn. Lớp ngoài cùng có cổ tròn, hoa văn rồng, mây và sóng nước; các lớp bên trong có kiểu cổ chéo, trong đó có những lớp sử dụng nền vải kim tuyến hoặc hoa văn rồng, phượng và hoa lá.
Nhóm đã đo đạc hiện vật và ghi nhận thân áo dài hơn 1,2m. Sải tay của một lớp áo ngoài vào khoảng 2,3m, trong khi một lớp áo khác có sải tay khoảng 2,64m.
Theo Hùng, trong tập tục mai táng thời Lê Trung Hưng, nhiều lớp trang phục có thể được mặc lên thi hài. Một số lớp trang phục cũng có thể được chuẩn bị cho nghi thức mai táng sau khi nhà vua qua đời.
Những dấu vết quá trình sửa đổi hoa văn trên mũi rồng (Ảnh: Nhân vật cung cấp).
Qua tiếp cận một tấm long bào có mã số 37168, nhóm đã tìm thấy hoa văn được chỉnh sửa sau khi dệt. Tuy nhiên, mục đích của việc chỉnh sửa vẫn cần nghiên cứu thêm.
"Có chi tiết được thêu bổ sung và có lớp thêu làm thay đổi hình dạng cách dệt ban đầu. Với hình rồng lớn trên thân áo, lớp thêu đã làm thay đổi hình dạng mũi rồng đã dệt từ trước", Đức Hùng nhấn mạnh.
Ở mặt trái của hiện vật, nhóm nhận thấy mũi rồng ở thân áo có cùng kiểu với hình rồng ở vai áo. Tuy nhiên, ở mặt phải, hình thêu đè lên đúng vị trí đó mang hình dáng khác biệt. Trong khoảng trống của phần thêu vẫn thấy hình dạng dệt không bị đè kín.
Xung quanh phần thêu, các cánh lông hay ria hai bên mũi rồng không đối xứng, một bên bị lớp thêu đè lên nên nhìn thấy ngắn hơn.
Không dừng lại ở đó, hai bạn trẻ còn tìm thấy dấu hiệu của màu sắc được tô lên sau khi dệt và thêu, không phải dùng sợi nhuộm màu.
"Trên cùng một sợi dệt, chúng tôi nhận thấy, những đoạn nằm trong vùng được tô mới đổi màu, trong khi các đoạn bên ngoài vẫn giữ nguyên màu tơ ban đầu.
Tương tự, tại khu vực được tô, màu phủ lên cả những sợi dọc đan xen với sợi ngang; ở ngoài khu vực này, các sợi vẫn giữ màu nguyên bản. Một số vị trí còn ghi nhận hiện tượng màu lem sang các sợi bên cạnh", Đức Hùng nói thêm.
Là thế hệ trẻ theo đuổi nghiên cứu cổ phục, hai bạn trẻ hy vọng những kết quả nghiên cứu sẽ giúp mọi người hình dung rõ hơn về trang phục cung đình Việt Nam trong quá khứ, đồng thời mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo về kỹ thuật dệt và quan niệm thẩm mỹ của người xưa.
Vua Lê Dụ Tông (1679-1731) tên thật là Lê Duy Đường, là vị hoàng đế của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam.
Mộ vua Lê Dụ Tông được phát hiện ngẫu nhiên vào tháng 2/1958 tại làng Bái Trạch, xã Xuân Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đầu năm 1964, được phép của Bộ Văn hóa (nay là Bộ VH-TT&DL), đội khảo cổ thuộc Vụ Bảo tồn - Bảo tàng, Bộ Văn hóa, đã khai quật ngôi mộ và đưa về Bảo tàng Lịch sử Việt Nam để lưu giữ và nghiên cứu.
Năm 1996, Hội đồng họ Lê ở Việt Nam có đề nghị Bộ VH-TT&DL cho phép đưa thi hài vua Lê Dụ Tông về an táng tại Thanh Hóa. Bộ VH-TT&DL đã tham khảo ý kiến của một số cơ quan có liên quan về đề nghị này. Do còn có ý kiến chưa đồng thuận nên việc này chưa được giải quyết.
Ngày 29/10/2009, Văn phòng Chính phủ đã có công văn thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ về việc hoàn táng thi hài Vua Lê Dụ Tông, trong đó nêu rõ, nghi lễ hoàn táng có thể vận dụng nghi thức truyền thống kết hợp với nghi thức hiện hành, đảm bảo trang trọng, tiết kiệm.
Thi hài vua Lê Dụ Tông được hoàn táng vào năm 2010, sau khi được khai quật và nghiên cứu.