Bỏ qua điều hướng

PHÁT HUY GIÁ TRỊ THIẾT CHẾ trong ÐỜI SỐNG CỘNG ÐỒNG

PHÁT HUY GIÁ TRỊ THIẾT CHẾ trong ÐỜI SỐNG CỘNG ÐỒNG
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Trong đời sống của những cộng đồng dân cư biển đảo, có những không gian đã âm thầm gìn giữ ký ức và những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ. Ðó có thể là một ngôi đình, một lăng thờ cá Ông, một nhà văn hóa hay những không gian lưu giữ, giới thiệu câu chuyện về vùng đất và con người nơi ấy. N...

Kết tinh từ lịch sử, hình thành bản sắc riêng

Dọc theo những miền biển, các thiết chế văn hóa hiện diện trong nhiều không gian khác nhau: từ các di tích lịch sử văn hóa, đình, đền, chùa, miếu đến các bảo tàng, nhà trưng bày, nhà văn hóa và những không gian sinh hoạt cộng đồng. Trong đó, các thiết chế tín ngưỡng, tâm linh vẫn là loại hình phổ biến, gắn bó sâu sắc với đời sống tinh thần của cư dân vùng biển. Tuy nhiên, không phải cứ nằm bên biển, một công trình văn hóa tự nhiên mang bản sắc biển, đảo. Sắc thái riêng của thiết chế văn hóa biển, đảo được kết tinh từ lịch sử khai phá, nghề biển, tín ngưỡng, phong tục, tri thức và cách con người ứng xử với biển qua nhiều thế hệ. Chính mối liên hệ với con người và đời sống cộng đồng khiến những thiết chế ấy trở thành nơi các giá trị văn hóa được lưu giữ, tiếp nối và bồi đắp trong cuộc sống.

Ẩn sau nhiều đình, đền, miếu, lăng ở các làng biển là câu chuyện về những thế hệ đã lập làng, bám biển, tạo dựng nghề nghiệp và cùng nhau đối diện với những bất trắc của biển khơi. Người dân thờ tiền hiền, tổ nghề, những người có công với làng; gìn giữ những nghi lễ và câu chuyện về người đi trước. Bằng cách ấy, hành trình sống cùng biển được trao truyền qua các thế hệ. Có nơi, ký ức của một làng biển còn hòa vào ký ức lớn hơn về quá trình xác lập và bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước. Lý Sơn (Quảng Ngãi) là một trường hợp như thế. Tại đình làng An Vĩnh và trong các tộc họ trên đảo, Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa được duy trì để tưởng nhớ những hùng binh Hoàng Sa năm xưa đã vượt biển thực thi nhiệm vụ, góp phần xác lập và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Qua mỗi mùa lễ, câu chuyện ấy lại được nhắc nhớ, từ ký ức dòng họ, làng xã trở thành một phần ký ức chung về hành trình bám biển, giữ biển của cha ông. Chính khả năng nối quá khứ với hiện tại ấy làm nên sức sống của nhiều thiết chế văn hóa biển, đảo.

Giá trị của thiết chế văn hóa còn được tạo nên từ chính những thực hành đang diễn ra trong đời sống cộng đồng. Mỗi mùa lễ hội, người dân lại trở về đình, miếu, lăng, vạn… cùng chuẩn bị lễ thức, thực hành nghi lễ, gặp gỡ và chia sẻ những niềm tin đã gắn bó với cộng đồng. Từ lễ hội Cầu ngư của cư dân vùng biển Đà Nẵng, lễ hội Nghinh Ông Thắng Tam ở vùng biển Vũng Tàu đến lễ hội Nghinh Ông ở vùng biển Trần Đề, mỗi nơi một sắc thái, một cách thực hành.

Cùng với sự đổi thay của đời sống, cách lưu giữ và trao truyền những câu chuyện về biển cũng ngày càng đa dạng. Nhiều bảo tàng, thư viện, nhà trưng bày, nhà văn hóa đã trở thành nơi tập hợp những dấu tích của đời sống biển và đưa chúng đến gần hơn với công chúng. Một chiếc thuyền từng theo ngư dân ra khơi, bộ ngư cụ đã qua nhiều mùa biển, những bức ảnh về làng chài cũ hay câu chuyện về một nghề truyền thống, khi được sưu tầm và đặt đúng vào không gian đều có thể kể một phần lịch sử của cộng đồng. Ở Bảo tàng Đà Nẵng, những câu chuyện về các làng chài, lễ hội và đời sống cư dân vùng biển được giới thiệu qua nhiều hình thức, đưa công chúng đến gần hơn với văn hóa biển của thành phố. Bảo tàng - Thư viện Quảng Ninh lưu giữ những dấu tích về thiên nhiên, lịch sử, văn hóa vùng đất mỏ, qua đó truyền tải tri thức và giúp công chúng hiểu hơn về những giá trị làm nên bản sắc nơi đây.

Giá trị của một thiết chế, suy cho cùng, không nằm ở công trình lớn hay nhỏ, cũng không thể tính bằng số lượng hiện vật được trưng bày. Điều đáng quan tâm hơn là nơi ấy kể được câu chuyện gì về vùng đất, giúp người dân hiểu thêm điều gì về nơi mình đang sống và có tạo được sợi dây kết nối giữa các thế hệ hay không. Một thiết chế văn hóa chỉ thật sự sống khi người dân tìm đến không phải vì đó là một công trình được xây dựng cho họ, mà bởi ở đó, họ tìm thấy một phần đời sống, ký ức và cộng đồng của chính mình.

Những tiềm năng chưa được đánh thức

Thiết chế có thể được xây mới, di tích có thể được tu bổ, nhưng sức sống văn hóa không tự nhiên xuất hiện cùng với công trình. Khoảng cách giữa “có” và “sống” vẫn hiện hữu: có nơi để sinh hoạt nhưng hoạt động thưa vắng; có di sản giàu câu chuyện nhưng cách kể còn cũ; có hiện vật quý nhưng chưa đủ sức kéo công chúng tới và có những cảm xúc tích cực. Nhiều giá trị của các thiết chế văn hóa biển, đảo vì thế vẫn chưa được đánh thức. Lịch sử làng biển, tri thức của người đi biển, tín ngưỡng, nghề truyền thống hay ký ức cộng đồng vẫn còn nhiều dư địa để mở ra cho giáo dục, trải nghiệm và du lịch.

Dư địa lớn của các thiết chế văn hóa biển, đảo nằm ở khả năng chuyển hóa giá trị văn hóa thành nguồn lực cho phát triển. Ký ức, tri thức bản địa, thực hành tín ngưỡng, nghề truyền thống, không gian cộng đồng có thể mở rộng giá trị qua giáo dục, trải nghiệm, du lịch và sinh kế của người dân. Nhưng tiềm năng càng lớn, cách khai thác càng cần được cân nhắc. Du lịch có thể mở rộng sức lan tỏa và tạo thêm giá trị từ di sản, nhưng nhiều khách hơn, doanh thu cao hơn chưa hẳn đồng nghĩa với phát huy tốt hơn. Những giá trị làm nên sức hấp dẫn vẫn có thể bị giản lược để dễ xem, dễ trải nghiệm, dễ bán. Ranh giới bắt đầu bị vượt qua khi lễ hội chạy theo nhu cầu của du khách; không gian tín ngưỡng chịu sức ép của dịch vụ; người dân từ chủ thể văn hóa thành người đứng bên lề chính di sản của mình.

Lưu giữ, bồi đắp và kết nối

Thiết chế văn hóa sẽ khó sống nếu cộng đồng chỉ đứng ngoài cánh cửa. Sự tham gia của người dân cần đi xa hơn việc góp công tu bổ đình, miếu hay có mặt trong những mùa lễ hội. Tiếng nói của họ cần hiện diện trong cách thiết chế được quản lý và vận hành: hoạt động nào cần duy trì, không gian nào cần giữ sự tôn nghiêm, giá trị nào có thể mở ra cho giáo dục, trải nghiệm và du lịch. Với bảo tàng, nhà trưng bày hay nhà văn hóa, chất liệu nhiều khi nằm ngay trong cộng đồng: ký ức của người đi biển, hiện vật của các gia đình, tri thức nghề nghiệp, những dấu tích của làng chài. Khi văn hóa tạo ra nguồn thu, lợi ích cần quay trở lại nuôi dưỡng thiết chế, hỗ trợ người thực hành và tạo thêm sinh kế cho người dân.

Giữ được giá trị là cần thiết, nhưng để giá trị ấy đi xa hơn lại cần một cách tiếp cận khác. Với nhiều thiết chế văn hóa biển, đảo, số hóa có thể mở thêm một cánh cửa. Mã QR bên hiện vật, bản đồ số về di tích, kho tư liệu hình ảnh hay những câu chuyện được kể bằng video, âm thanh có thể đưa lịch sử ra khỏi những tủ kính, giúp công chúng tiếp cận di sản theo những cách mới.

Giá trị của thiết chế văn hóa được nhân lên khi kết nối với đời sống chung quanh. Một chuyến thăm di tích có thể nối dài bằng trải nghiệm nghề biển, ẩm thực, câu chuyện làng chài hay sản phẩm thủ công. Nhà văn hóa, bảo tàng có thể đưa du khách bước vào hành trình khám phá vùng đất, thay vì tồn tại như những điểm dừng rời rạc. Những kết nối như vậy mở thêm cơ hội sinh kế cho người dân, đồng thời tạo nguồn lực trở lại nuôi dưỡng thiết chế. Nhưng tạo thêm giá trị không đồng nghĩa với khai thác bằng mọi giá. Không gian nào có thể mở cho du lịch, nghi lễ nào cần giữ tính nguyên gốc, sức chứa đến đâu là phù hợp với đời sống địa phương, lợi ích được chia sẻ ra sao - những giới hạn ấy cần được xác lập từ chính cộng đồng. Nguồn lực văn hóa chỉ bền khi người dân sống tốt hơn từ sự phát triển ấy mà vẫn giữ được những giá trị làm nên bản sắc của mình.

Những con tàu vẫn ra khơi. Những lễ thức vẫn được trao truyền. Những câu chuyện về biển vẫn được kể lại cho lớp trẻ. Trong dòng chảy ấy, đình, lăng, nhà văn hóa, bảo tàng không phải những công trình đứng lại trong quá khứ. Chúng có thể trở thành điểm tựa để cộng đồng bước vào tương lai mà không đánh mất những gì đã làm nên ký ức và bản sắc của mình.

TS Nguyễn Thị Mỹ Linh

Dọc theo các vùng biển đảo Việt Nam, các thiết chế văn hóa như đình, đền, miếu, lăng thờ cá Ông hay nhà trưng bày đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc lưu giữ ký ức cộng đồng. Sắc thái riêng biệt của những không gian này được kết tinh từ lịch sử khai phá, nghề biển, phong tục tín ngưỡng và tri thức ứng xử với biển qua nhiều thế hệ. Chính sự kết nối bền chặt với đời sống cư dân đã giúp các giá trị di sản văn hóa không ngừng được tiếp nối và bồi đắp. Tại đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa vẫn được duy trì trang trọng ở đình làng An Vĩnh nhằm khắc ghi công ơn của các hùng binh năm xưa. Đồng thời, những sinh hoạt văn hóa dân gian như lễ hội Cầu ngư ở Đà Nẵng, Nghinh Ông Thắng Tam tại Vũng Tàu hay Nghinh Ông ở Trần Đề cũng thu hút đông đảo ngư dân tham gia. Thông qua từng nghi thức truyền thống, cộng đồng không chỉ tưởng nhớ tổ nghề hay tiền hiền mà còn củng cố niềm tin và tinh thần đoàn kết trước những bất trắc nơi biển khơi. Trong bối cảnh hiện đại, việc bảo tồn và quảng bá câu chuyện biển đảo đang tiếp tục mở ra nhiều hình thức đa dạng hơn. Tại Bảo tàng Đà Nẵng cùng các nhà văn hóa, nhiều hiện vật như thuyền nghề, bộ ngư cụ hay hình ảnh làng chài cổ đã được sưu tầm và sắp đặt bài bản. Những không gian này đóng vai trò cầu nối hiệu quả, đưa ký ức lịch sử cùng di sản văn hóa của người dân vùng biển đến gần hơn với đông đảo công chúng trong và ngoài nước.