Bỏ qua điều hướng
•

Phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026-2030

Phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026-2030
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành Quyết định số 813/QĐ-BHXH về việc ban hành Kế hoạch thực hiện đột phá phát triển khoa học, công nghệ , đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 giai đoạn 2026-2030. Bộ Tài chính công bố 4 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung về bảo hiểm xã hội Liên thông đăng...

Kế hoạch đặt mục tiêu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, dữ liệu và công nghệ số trong quản lý, tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Quyết định số 813/QĐ-BHXH thay thế Quyết định số 3023/QĐ-BHXH ngày 10/10/2025 về ban hành Kế hoạch thực hiện đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và triển khai Đề án 06. Các nhiệm vụ đã hoàn thành tiếp tục được kế thừa, duy trì và phát huy hiệu quả; những nhiệm vụ đang thực hiện hoặc có tính chất thường xuyên được cập nhật theo Kế hoạch mới.

Lấy dữ liệu và công nghệ số làm nền tảng nâng cao chất lượng phục vụ

Theo Kế hoạch, Bảo hiểm xã hội Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng để đổi mới phương thức quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Một trong những định hướng xuyên suốt là phát huy giá trị của Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử; tăng cường kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu, hướng tới việc người dân, doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần cho cơ quan nhà nước theo quy định.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam đẩy mạnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Kế hoạch nêu rõ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam xác định, là lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm của chuyển đổi số, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, thực hiện thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính, thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao mức độ hài lòng, trải nghiệm của người tham gia, thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Cùng với đó, tiếp tục phát triển hạ tầng số, nền tảng số, hệ thống thông tin và nguồn nhân lực số đồng bộ, hiện đại, an toàn; tăng cường bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và khả năng hoạt động liên tục của các hệ thống thông tin.

Nhiều mục tiêu cụ thể hướng tới nền hành chính dựa trên dữ liệu

dich-vu-cong-bao-hiem-xa-hoi-vietnam.jpg
Cổng Dịch vụ công của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Kế hoạch đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể trong cải cách thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công. Trong năm 2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phấn đấu tối thiểu 50% dịch vụ công, thủ tục hành chính hoàn thành việc chuẩn hóa các trường thông tin theo Hệ thống từ điển dữ liệu dùng chung; tối thiểu 50% dịch vụ công, thủ tục hành chính được cắt giảm thành phần hồ sơ, giấy tờ khi dữ liệu đã được tích hợp trên VNeID hoặc đáp ứng yêu cầu về dữ liệu.

Tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến được đặt mục tiêu đạt tối thiểu 80% trong năm 2026; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về dịch vụ công đạt 95%; 100% thủ tục hành chính, dịch vụ công đủ điều kiện được thực hiện theo hướng không phụ thuộc địa giới hành chính và tỷ lệ thanh toán trực tuyến trong thực hiện dịch vụ công đạt tối thiểu 60%.

Đến năm 2030, các mục tiêu tiếp tục được nâng lên: tối thiểu 80% dịch vụ công, thủ tục hành chính được chuẩn hóa trường thông tin theo Hệ thống từ điển dữ liệu dùng chung; tối thiểu 80% được cắt giảm thành phần hồ sơ, giấy tờ trên cơ sở tái sử dụng dữ liệu; tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến đạt tối thiểu 90% và tỷ lệ thanh toán trực tuyến đạt tối thiểu 80%.

Đặc biệt, 100% dịch vụ công, thủ tục hành chính đủ điều kiện được thông báo trạng thái, kết quả xử lý và đồng bộ trên Cổng Dịch vụ công quốc gia để phục vụ đồng bộ lên ứng dụng VNeID; 100% người sử dụng dịch vụ thuộc phạm vi có yêu cầu định danh, xác thực được định danh, xác thực bằng căn cước và tài khoản VNeID theo quy định.

Về dữ liệu, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đặt mục tiêu tỷ lệ số hóa, tạo lập biểu mẫu điện tử dùng chung đáp ứng yêu cầu khai thác, tái sử dụng dữ liệu đạt từ 50% trở lên trong năm 2026 và 100% vào năm 2030. Tỷ lệ cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi Bảo hiểm xã hội Việt Nam được xây dựng, tạo lập, tích hợp, kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc Trung tâm dữ liệu quốc gia đạt tối thiểu 70% trong năm 2026 và 100% vào năm 2030.

Đồng thời, 100% người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đủ điều kiện được cập nhật số định danh cá nhân và xác thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành tiếp tục được hoàn thiện, khai thác hiệu quả, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới, hoàn thiện các tiện ích số

Trong triển khai Đề án 06, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp tục hoàn thiện kết nối hệ thống định danh điện tử với hệ thống phần mềm của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, bảo đảm sẵn sàng phục vụ chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp thất nghiệp theo tiến độ được giao; duy trì đồng bộ dữ liệu bảo hiểm thất nghiệp và các dữ liệu liên quan phục vụ chi trả an sinh xã hội, phân tích, hoạch định chính sách.

Kế hoạch cũng đặt ra yêu cầu nghiên cứu, thử nghiệm và từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, sinh trắc học và các công nghệ mới trong hoạt động nghiệp vụ, quản trị, phân tích dữ liệu, dự báo, cảnh báo rủi ro và cung cấp dịch vụ.

Đối với các nền tảng, ứng dụng và dịch vụ số, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp tục hoàn thiện kết nối với Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tài chính, Cổng Dịch vụ công quốc gia, VNeID, Trung tâm dữ liệu quốc gia và các nền tảng dùng chung; nâng cấp các phần mềm nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Việc làm và các văn bản hướng dẫn.

Cùng với đó là phát triển dịch vụ công trực tuyến theo hướng toàn trình, đơn giản, thuận tiện; đồng bộ trạng thái xử lý và kết quả giải quyết thủ tục hành chính lên Cổng Dịch vụ công quốc gia, VNeID; đẩy mạnh thanh toán trực tuyến và thanh toán không dùng tiền mặt trong chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp.

Một số tiện ích số tiếp tục được hoàn thiện như sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử, thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử; các giải pháp phân tích, phát hiện bất thường và cảnh báo rủi ro trong quản lý thu, phát triển người tham gia, giải quyết và chi trả các chế độ. Kế hoạch cũng yêu cầu hoàn thiện chức năng phần mềm tự động cấp sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế bản điện tử đối với trường hợp đăng ký bản điện tử theo quy định.

Trong lĩnh vực bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phối hợp triển khai sổ sức khỏe điện tử, giấy chuyển tuyến, giấy hẹn khám lại trên VNeID và liên thông các dữ liệu y tế theo lộ trình, yêu cầu của cấp có thẩm quyền; đồng thời tiếp tục làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu phục vụ liên thông dữ liệu khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.

Tăng cường an toàn thông tin, phát triển nguồn nhân lực số

Cùng với phát triển các nền tảng và dịch vụ số, Kế hoạch xác định bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân là yêu cầu xuyên suốt.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ nâng cấp, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin; hoàn thiện các phương án dự phòng, sao lưu, khôi phục sau sự cố nhằm bảo đảm hoạt động liên tục của hệ thống. Đồng thời, thực hiện đầy đủ các yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ; tăng cường giám sát, phát hiện, cảnh báo và ứng cứu sự cố an toàn thông tin, an ninh mạng; bảo vệ dữ liệu trong toàn bộ vòng đời từ thu thập, tạo lập, lưu trữ, xử lý, chia sẻ đến hủy dữ liệu theo quy định.

Về nhân lực, Bảo hiểm xã hội Việt Nam triển khai đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, quản trị dữ liệu, an toàn thông tin, trí tuệ nhân tạo và công nghệ mới theo vị trí việc làm; xây dựng đội ngũ nhân lực nòng cốt, chuyên gia về dữ liệu, kiến trúc hệ thống, an toàn thông tin, AI và chuyển đổi số. Đồng thời, mở rộng hợp tác trong nước và quốc tế về đào tạo, nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm, tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ.

Để bảo đảm triển khai đồng bộ, các đơn vị thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam và bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố được yêu cầu chủ động xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ theo nguyên tắc “06 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền; chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng, số liệu và minh chứng của nhiệm vụ được giao.

Trung tâm Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số là đơn vị thường trực, tham mưu giúp lãnh đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo dõi, đôn đốc việc thực hiện Kế hoạch; tổng hợp tiến độ, kết quả, khó khăn, vướng mắc và đề xuất điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ khi có yêu cầu mới. Việc triển khai được quản trị theo sản phẩm đầu ra, chỉ tiêu định lượng và minh chứng, với chế độ cập nhật, báo cáo định kỳ hằng tháng.

Với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể, Kế hoạch thực hiện đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 giai đoạn 2026-2030 là cơ sở để Bảo hiểm xã hội Việt Nam tiếp tục đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng dữ liệu, phát triển các dịch vụ số và cải cách thủ tục hành chính; qua đó góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Động lực quan trọng của chuyển đổi số

Chuyển đổi số - động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới

Phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026-2030

Liên thông đăng ký khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho hơn 278 nghìn trẻ dưới 6 tuổi ở Hà Nội

PV

Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chính thức ban hành Quyết định số 813/QĐ-BHXH về Kế hoạch thực hiện đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06 giai đoạn 2026-2030, thay thế cho Quyết định số 3023/QĐ-BHXH. Văn bản này đặt ra định hướng lấy dữ liệu và công nghệ số làm nền tảng cốt lõi nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp và tối ưu hóa phương thức quản lý chính sách bảo hiểm. Đồng thời, Ngành tiếp tục kế thừa các thành quả đã đạt được, đẩy mạnh khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cùng hệ thống định danh điện tử VNeID. Trong định hướng chiến lược, Bảo hiểm xã hội Việt Nam quán triệt mục tiêu lấy người tham gia và thụ hưởng chính sách làm trung tâm để đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình và thanh toán không dùng tiền mặt. Các dịch vụ công sẽ được triển khai theo hướng không phụ thuộc vào địa giới hành chính, tạo sự thuận lợi tối đa cho các bên liên quan. Bên cạnh đó, việc phát triển hạ tầng số, bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng được xác định là nhiệm vụ trọng tâm để duy trì tính hoạt động liên tục của toàn hệ thống. Kế hoạch cũng đặt ra hàng loạt mục tiêu cụ thể nhằm từng bước hiện thực hóa nền hành chính hiện đại dựa trên dữ liệu số. Ngay trong năm 2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phấn đấu đạt tối thiểu 50% dịch vụ công được chuẩn hóa trường thông tin theo Hệ thống từ điển dữ liệu dùng chung và cắt giảm giấy tờ nhờ tích hợp VNeID. Ngành cũng mục tiêu đưa tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến đạt tối thiểu 80%, tỷ lệ thanh toán trực tuyến đạt tối thiểu 60% và nâng mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp lên 95%.