Phân cấp để quản lý gần dân hơn
Một bữa ăn bán trú của học sinh tưởng như bắt đầu từ căn bếp nhà trường, nhưng thực tế liên quan đến cả một chuỗi: Từ trang trại, cơ sở giết mổ, nơi sơ chế, vận chuyển, nhà cung cấp nguyên liệu đến chế biến và phục vụ. Chỉ một mắt xích không bảo đảm, nguy cơ có thể theo cả chuỗi vào bữa ăn.
Thực tế này được đặt rõ qua vụ cơ quan chức năng phát hiện khoảng 300 tấn thịt lợn mắc dịch tả châu Phi được đưa ra thị trường hồi đầu năm 2026. Theo Bộ Y tế, số thịt này được đưa đến các chợ, sau đó một doanh nghiệp mua về pha lọc, sơ chế, đóng gói, dán nhãn thịt lợn sạch rồi bán cho các đơn vị khác. Một phần sản phẩm được cung cấp cho một số trường học tại Hà Nội và các địa phương lân cận.
Vụ việc vẫn tiếp tục được cơ quan chức năng làm rõ, đặc biệt khả năng truy xuất: Thực phẩm từ đâu, qua những khâu nào, được đưa đến đâu và trách nhiệm thuộc về ai?
Đây cũng là một trong những lý do cơ quan soạn thảo đề xuất thay đổi phương thức quản lý. Sau 15 năm thi hành, Luật năm 2010 bộc lộ một số hạn chế như phân công quản lý còn phân mảnh, tiếp cận quản lý theo nguy cơ chưa đầy đủ, dữ liệu chưa liên thông và một số quy định chưa đồng bộ với pháp luật hiện hành.
Theo TS, dược sĩ Chu Quốc Thịnh, Cục trưởng An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), dự thảo chuyển mạnh sang quản lý theo chuỗi và dựa trên phân tích nguy cơ. Thực phẩm được định hướng phân nhóm theo mức độ rủi ro để áp dụng biện pháp quản lý phù hợp; đồng thời tăng hậu kiểm, thanh tra, kiểm tra và lấy mẫu giám sát thị trường.
Cách tiếp cận này giúp nguồn lực quản lý tập trung hơn vào những nhóm có nguy cơ cao, thay vì dàn đều cho tất cả cơ sở và sản phẩm. Mục tiêu là phát hiện, ngăn ngừa nguy cơ trước khi xảy ra sự cố, thay vì chủ yếu xử lý sau khi người tiêu dùng đã bị ảnh hưởng.
Thực tế, riêng quý I/2026, cả nước ghi nhận 36 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 20 vụ so cùng kỳ năm 2025; trong đó có 9 vụ từ 30 người mắc trở lên. Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan lưu ý, các hộ kinh doanh cá thể, thức ăn đường phố và hoạt động kinh doanh thực phẩm trên các sàn thương mại điện tử nhỏ lẻ là những khu vực tiềm ẩn nguy cơ do tính chất phân tán, khó truy xuất nguồn gốc.
Một trong những thay đổi đáng chú ý của dự thảo là tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương. Theo định hướng xây dựng Luật, quản lý an toàn thực phẩm phải gắn với một đầu mối rõ ràng, đồng thời phân định trách nhiệm cụ thể giữa các cấp, các ngành.
Ở cấp xã, yêu cầu này càng quan trọng bởi đây là cấp gần nhất với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ, hàng quán, thức ăn đường phố và nhiều loại hình kinh doanh thực phẩm trên địa bàn. Bộ Y tế đang nghiên cứu quy định cụ thể hơn trách nhiệm của UBND cấp xã trong lập danh sách, quản lý, kiểm tra cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố, cơ sở cung cấp suất ăn tập thể; tiếp nhận phản ánh, phòng ngừa, xử lý sự cố và cập nhật thông tin vi phạm vào hệ thống thông tin về an toàn thực phẩm.
Phân cấp vì vậy không chỉ là đưa thêm nhiệm vụ xuống cơ sở. Điều quan trọng là cấp được giao việc phải có đủ nhân lực, chuyên môn, công cụ kiểm tra và dữ liệu để thực hiện. Thứ trưởng Y tế Đỗ Xuân Tuyên nhấn mạnh: “Việc sửa đổi luật phải giải quyết những hạn chế, vướng mắc của luật hiện hành, đồng thời xác định và đề cao trách nhiệm của cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm”.
Bếp ăn trường học là một trong những nơi cho thấy rõ nhất yêu cầu quản lý theo chuỗi. Theo Bộ Y tế, năm học 2025-2026, Hà Nội có khoảng 3.100 bếp ăn tập thể trường học, phục vụ khoảng 730 nghìn suất ăn mỗi bữa. Các trường có thể tự tổ chức nấu ăn hoặc ký hợp đồng với đơn vị cung cấp suất ăn.
Một bữa ăn an toàn vì thế phụ thuộc vào nhiều chủ thể: Nhà trường, người đứng đầu bếp ăn, nhà cung cấp thực phẩm, đơn vị vận chuyển, nhân viên chế biến và cả cơ quan quản lý địa phương.
Bộ Y tế đã yêu cầu các địa phương tăng cường kiểm tra bếp ăn tập thể, bếp ăn trường học; đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị tổ chức bếp ăn và chủ cơ sở cung cấp suất ăn. Bộ cũng đề nghị huy động đại diện cha mẹ học sinh, đoàn thanh niên tham gia giám sát bếp ăn trường học.
Đây là hướng tiếp cận cần được thể hiện rõ hơn trong Luật sửa đổi: Không chỉ kiểm tra điều kiện của căn bếp tại thời điểm đoàn kiểm tra đến, mà phải kiểm soát cả nguồn nguyên liệu và quá trình cung ứng. Thí dụ, nếu một trường học ký hợp đồng với một nhà cung cấp đã có đầy đủ hồ sơ nhưng nhà cung cấp này lại mua nguyên liệu từ một nguồn khác không bảo đảm, việc chỉ kiểm tra giấy tờ của nhà cung cấp chưa đủ để bảo đảm an toàn.
Quản lý theo chuỗi đòi hỏi hồ sơ và dữ liệu phải giúp lần ngược được nguồn thực phẩm. Khi xảy ra sự cố, việc truy xuất phải nhanh chóng khoanh vùng sản phẩm, nhà cung cấp và những nơi đã nhận sản phẩm, thay vì mất nhiều thời gian xác định từ đầu.
Đây cũng là lý do dự thảo hướng tới tăng hậu kiểm và ứng dụng công nghệ trong quản lý. Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan yêu cầu các địa phương tăng cường vai trò, năng lực của chính quyền, nâng cao kiểm tra, giám sát hậu kiểm và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý cơ sở dữ liệu an toàn thực phẩm, phục vụ truy xuất nguồn gốc và đánh giá nguy cơ.
Không để khoảng trống trên môi trường số
Thị trường thực phẩm đang thay đổi nhanh khi người tiêu dùng có thể mua hàng qua mạng xã hội, sàn thương mại điện tử hoặc nền tảng giao hàng mà không cần đến cửa hàng. Cách thức này mở rộng thị trường nhưng cũng khiến việc xác định người bán, nguồn gốc sản phẩm và trách nhiệm khi có sự cố trở nên khó khăn hơn. Theo Bộ Y tế, kinh doanh, quảng cáo thực phẩm trên nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội và các trang thông tin điện tử đa quốc gia ngày càng phổ biến, gây khó khăn cho công tác quản lý.
Dự thảo luật vì vậy định hướng quy định rõ hơn trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh thực phẩm trên môi trường thương mại điện tử. Cơ sở kinh doanh phải công khai thông tin pháp lý của sản phẩm; các nền tảng thương mại điện tử cũng được đặt ra trách nhiệm kiểm soát, xác thực thông tin theo quy định.
Đây là yêu cầu cần thiết bởi với bán hàng trực tuyến, người bán có thể tiếp cận lượng lớn người tiêu dùng trong thời gian ngắn, trong khi người mua khó biết sản phẩm được sản xuất ở đâu, ai chịu trách nhiệm và khi có vấn đề thì phản ánh tới đâu. Nếu dữ liệu được quản lý tốt, chính môi trường số có thể trở thành công cụ hỗ trợ quản lý. Thông tin về chủ thể kinh doanh, sản phẩm, nguồn gốc và lịch sử vi phạm có thể được tích hợp để phục vụ giám sát, cảnh báo và truy xuất.
Điểm đáng chú ý trong lần sửa luật này là chuyển trọng tâm từ kiểm tra điều kiện sang quản lý nguy cơ và trách nhiệm trong toàn bộ chuỗi. Để làm được điều đó, trách nhiệm của từng cấp, từng ngành và từng chủ thể kinh doanh phải rõ; dữ liệu phải kết nối; nguồn lực kiểm tra phải tập trung vào những lĩnh vực có nguy cơ cao.
Đặc biệt, phân cấp cho địa phương cần đi cùng giao quyền và giao trách nhiệm. Ở cấp xã, cơ quan quản lý phải nắm được các cơ sở thực phẩm trên địa bàn, nhận diện nhóm nguy cơ cao và có cơ chế xử lý khi người dân phản ánh. Ở trường học, người đứng đầu phải kiểm soát được nguồn thực phẩm, nhà cung cấp và quy trình giao nhận, chế biến. Trên môi trường số, người bán phải được nhận diện, còn nền tảng phải thực hiện trách nhiệm theo quy định.
Ngày 24/9 vừa qua, tại buổi làm việc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu an toàn thực phẩm phải rõ một đầu mối, rõ trách nhiệm đến cùng.
Đây cũng là yêu cầu xuyên suốt của việc sửa luật. Người dân không chỉ cần biết thực phẩm được quản lý bởi cơ quan nào, mà cần một hệ thống có khả năng kiểm soát từ nguồn, phát hiện sớm nguy cơ và nhanh chóng truy xuất, xử lý khi có sự cố.
Từ sản xuất đến bàn ăn, từ chợ truyền thống đến thương mại điện tử, mỗi mắt xích đều cần có trách nhiệm rõ ràng. Khi dữ liệu được kết nối và quản lý dựa trên nguy cơ, công tác an toàn thực phẩm mới có thể chuyển từ xử lý sự cố sang phòng ngừa rủi ro, bảo vệ tốt hơn sức khỏe Nhân dân.
Bài và ảnh: AN NHƯ