Cốt nền cũng cần cập nhật định kỳ
Theo các chuyên gia, cốt nền là một trong những yếu tố quan trọng, là hệ quy chiếu trong việc chống ngập. Tuy nhiên, trong sự liên hệ với nhiều yếu tố khác về sụt lún, lượng mưa, nước biển dâng… thì cốt nền cũng cần được xem là yếu tố động và thường xuyên cập nhật.
TS Thiềm Quốc Tuấn, Trưởng khoa Địa chất và Khoáng sản (Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường TP.HCM), nhấn mạnh vấn đề cốt nền phải được đặt trong bối cảnh, không gian và thời điểm cụ thể. Bởi không có một cao độ nền duy nhất có thể bảo đảm chống ngập cho mọi khu vực, mọi thời điểm và mọi tác nhân gây ngập.
"Cốt nền chỉ thực sự có ý nghĩa khi được xác định trong một lưu vực cụ thể, trên cơ sở địa hình, địa chất, mức độ sụt lún và đặc biệt là phải xác định rõ ngập do triều cường, do mưa lớn hay do sự cộng hưởng giữa mưa lớn và triều cường. Cùng một cao độ nền, có thể an toàn trước triều ở thời điểm này nhưng chưa chắc an toàn khi mưa cực đoan xảy ra đúng lúc triều đạt đỉnh; càng chưa chắc còn phù hợp sau hàng chục năm nếu nền đất tiếp tục sụt lún", TS Thiềm Quốc Tuấn lý giải.

Chống ngập cho TP.HCM không đơn giản là nước dâng đến đâu nâng nền đến đó
ẢNH: NHẬT THỊNH
Chưa kể vấn đề của đô thị hiện hữu là cao độ nền, đường giao thông, nhà ở và hệ thống thoát nước được hình thành qua nhiều thời kỳ nên thiếu tính đồng bộ. Vì vậy mới xuất hiện nghịch lý: nâng đường để chống ngập thì nhà dân trở nên thấp tương đối so với mặt đường, làm tăng nguy cơ ngập. Người dân tiếp tục nâng nền nhà thì nước lại có xu hướng dồn sang khu vực thấp hơn. Nếu chỉ nâng cao độ từng công trình mà không giải quyết khả năng tiêu thoát nước của cả lưu vực, chúng ta có thể chỉ chuyển nước từ nơi này sang nơi khác, chứ chưa giải quyết được bản chất của ngập.
PGS-TS Lê Trung Chơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển bền vững (Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường TP.HCM), cũng đồng quan điểm rằng cần định kỳ rà soát và cập nhật quy hoạch cốt nền xây dựng để phù hợp với biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng và sụt lún đất. Bởi "cốt nền" là cao độ khống chế được xác định trong quy hoạch, làm cơ sở thiết kế san nền, đường, công trình và hệ thống thoát nước trên một hệ độ cao thống nhất. Quy hoạch cốt nền xây dựng không đơn giản là chọn một con số rồi nâng đất lên. Nó phải dựa trên đặc điểm địa hình, địa chất; đặc điểm thoát nước của lưu vực, thủy văn và chế độ thủy triều; đồng thời tính đến sụt lún, triều cường và mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu trong quá trình phát triển đô thị và vòng đời công trình.
"Dữ liệu chúng tôi phân tích giai đoạn 2015 - 2025 cho thấy nhiều khu vực lún khoảng 2 - 5 cm/năm, một số điểm có thể đạt 7 - 8 cm/năm, trong khi một số khu vực khác có tốc độ lún thấp hơn rõ rệt. Đây là kết quả theo khu vực hoặc điểm quan trắc, không phải một tốc độ chung cho cả TP.HCM. Khi mặt đất hạ thấp không đều, cao độ thực tế dần khác với lúc thiết kế; độ dốc cống, khả năng thoát tự chảy và khoảng dự phòng an toàn trước triều đều bị ảnh hưởng. Đường giao thông, công trình thoát nước và công trình thủy lợi vì thế cần được kiểm tra theo cao độ nền và mực nước triều cường hiện nay", ông Chơn nói.
Không nên quy hoạch một cốt nền chuẩn cho toàn TP
PGS-TS Lê Trung Chơn cho rằng TP.HCM cần rà soát cốt nền xây dựng và quy hoạch cốt nền phù hợp có tính đến kịch bản biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng, triều cường, thời tiết cực đoan và sụt lún theo từng tiểu lưu vực trên hệ độ cao quốc gia Hòn Dấu. Cụ thể như: dữ liệu InSAR phải được diễn giải đúng thành phần chuyển dịch và đối chiếu với GNSS (Global Navigation Satellite System - Hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu), mốc cao độ, đo đạc thực địa. Sau đó mới mô phỏng các tổ hợp mưa, triều cường, sụt lún và nước biển dâng để xác định cao độ an toàn cho công trình mới, đồng thời ưu tiên cải tạo hạ tầng hiện hữu.
Về quản lý, các đồ án quy hoạch, hồ sơ thiết kế và giấy phép xây dựng cần quy định rõ cốt nền của dự án, công trình xây dựng theo quy hoạch cốt nền đã được công bố. Cơ quan quản lý cần kiểm tra việc thực hiện để tránh tình trạng mỗi nhà nâng một kiểu. Nâng nền đường mà không xét toàn lưu vực có thể chuyển rủi ro ngập sang khu vực khác hoặc biến khu dân cư hai bên thành chỗ trũng dễ bị ngập lụt.
TS Thiềm Quốc Tuấn thì khuyến nghị trước hết cần thay đổi cách tiếp cận: không nên tìm một "cốt nền chuẩn" duy nhất cho toàn TP, mà cần xây dựng hệ thống cao độ nền theo từng lưu vực và tiểu lưu vực thoát nước. Mỗi khu vực cần xác định một cao độ khống chế thích ứng, dựa trên đồng thời các yếu tố: địa hình hiện trạng; điều kiện địa chất công trình - địa kỹ thuật; tốc độ sụt lún; mực triều; lượng mưa và cường độ mưa thiết kế; khả năng thoát nước; mực nước tại cửa xả; không gian trữ nước và kịch bản biến đổi khí hậu.
Quan trọng hơn, phải mô phỏng ít nhất 3 kịch bản: triều cao, mưa lớn và bất lợi nhất là mưa lớn trùng với triều cao. Khi đó mới xác định được ở đâu cần nâng nền, ở đâu cần tăng năng lực cống - bơm, ở đâu cần hồ điều tiết, không gian trữ nước, kiểm soát triều. Đồng thời lựa chọn tổ hợp giải pháp phù hợp theo hướng không chỉ chống ngập mà còn chủ động thích ứng với ngập.
Đối với đô thị hiện hữu, TS Thiềm Quốc Tuấn lưu ý việc nâng nền phải đặc biệt thận trọng. Không thể đơn giản nâng một con đường hay một khu dân cư mà không đánh giá nước sẽ đi đâu sau khi nâng. Nguyên tắc phải là nâng nền không làm gia tăng rủi ro ngập cho khu vực lân cận. Nói cách khác, quy hoạch cốt nền phải đi cùng quy hoạch thoát nước và quản lý lưu vực; hai bài toán này không thể tách rời.
"Tôi cho rằng không nên đặt câu hỏi đơn giản là "cốt nền bao nhiêu mét là đủ?", bởi một con số cố định hôm nay có thể không còn phù hợp trong tương lai. Cao độ nền phải được xác định theo mức độ rủi ro chấp nhận được và vòng đời của công trình, trên cơ sở tổ hợp các điều kiện bất lợi: mưa cực đoan, triều cao, mưa trùng triều, nước biển dâng và sụt lún nền đất. Đặc biệt, đối với TP.HCM, cao độ tương đối giữa mặt đất và mực nước mới là yếu tố quyết định. Nếu nền đất tiếp tục lún trong khi mực nước có xu hướng tăng thì khoảng an toàn đó sẽ ngày càng thu hẹp. Vì vậy, cốt nền nên được xem là một giá trị động trong quy hoạch, cần được quan trắc, cập nhật và điều chỉnh theo thời gian, thay vì một con số được xác lập một lần rồi sử dụng hàng chục năm", TS Thiềm Quốc Tuấn nói và lưu ý cốt nền chỉ là một lớp trong hệ thống phòng chống ngập, không phải giải pháp duy nhất. Dù nền được nâng cao đến đâu, nếu bê tông hóa quá mức, mất không gian trữ nước, kênh rạch bị thu hẹp, cống không đủ năng lực hoặc cửa xả bị triều khống chế thì đô thị vẫn có thể ngập. Do đó, bài toán lâu dài không phải là "nâng TP lên bao nhiêu mét", mà là tổ chức đô thị như thế nào để nước có chỗ chứa, có đường đi, có cửa thoát và công trình có cao độ an toàn.
Khu đô thị Phú Mỹ Hưng là một trường hợp đáng tham khảo vì cao độ nền đã được xác lập ngay từ đầu tương đối đồng bộ với hệ thống giao thông, thoát nước, kênh rạch và không gian trữ nước. Nhờ vậy, nước có chỗ để chứa, đường để đi và cửa để thoát. Chính tính đồng bộ của cả hệ thống, chứ không chỉ riêng việc nâng nền, mới là yếu tố quan trọng giúp khu vực này hạn chế ngập.
TS Thiềm Quốc Tuấn, Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường TP.HCM