Trong tương lai gần, khi các bác sĩ nói rằng trường hợp này cần phải phẫu thuật thì người bệnh chớ quá lo lắng. Bởi có thể các thầy thuốc không động dao kéo gì nhiều mà công việc đó là do một robot tí hon đảm nhiệm. Bước đột phá trong điều trị này xuất phát từ Đại học Stanford (Mỹ). Đó là thiết bị c...
Trong tương lai gần, khi các bác sĩ nói rằng trường hợp này cần phải phẫu thuật thì người bệnh chớ quá lo lắng.
Bởi có thể các thầy thuốc không động dao kéo gì nhiều mà công việc đó là do một robot tí hon đảm nhiệm. Bước đột phá trong điều trị này xuất phát từ Đại học Stanford (Mỹ). Đó là thiết bị có thể bơi trong lòng tĩnh mạch do các bác sĩ điều khiển không dây qua sóng điện từ ở bên ngoài cơ thể bệnh nhân.
Mẫu robot phẫu thuật trước đây muốn hoạt động cần có năng lượng nhờ những khối pin khá lớn, đến nay kích cỡ chúng đã được thu nhỏ bằng hạt gạo. Loại thiết bị này có thể đi đến nơi cần cung cấp dược phẩm một cách chính xác cho bộ phận cơ thể, chứ không phải hấp thu toàn thân như cách cổ điển là uống hoặc tiêm thuốc với nhiều tác dụng phụ.
Chúng cũng có thể làm những phẫu thuật hết sức tinh tế hoặc làm nhiệm vụ thám sát rồi gửi hình ảnh ra ngoài, thay thế phương pháp nội soi xâm lấn hiện hành. Nguyên mẫu robot phẫu thuật đa năng tí hon này là 3 x 4mm và tương lai còn có thể thu nhỏ hơn.
Vào đầu tháng 4/2012, tại Hội nghị quốc tế về vi mạch rắn ứng dụng trong điều trị, giáo sư Ada Poon đã chứng minh sự hiệu quả của loại robot mới. Chúng vừa có thể tự hành hoặc được điều khiển không dây ở bên ngoài cơ thể bệnh nhân. Theo Giáo sư Ada Poon thì loại thiết bị này đáp ứng được nhiều yêu cầu. Chúng là một cuộc cách mạng trong công nghệ y khoa, ứng dụng từ điều trị qua dược phẩm đến chẩn đoán hoặc phẫu thuật xâm lấn tối thiểu. Theo báo Daily Mail, loại robot mới nhất của Ada Poon có thể “đi lang thang” trong mạch máu, cung cấp thuốc đến vị trí cụ thể, thực hiện phân tích bệnh và ngoạn mục hơn nữa là loại trừ cục máu đông hoặc loại bỏ các mảng bám trong lòng động mạch xơ cứng.
Bí quyết của robot phẫu thuật thế hệ mới này là nó được điều hành qua sóng radio không dây, và đó cũng chính là nguồn cung cấp năng lượng để nó có thể di chuyển qua các dòng máu.
Trong tương lai gần, câu nói “cần phẫu thuật” có thể không còn khiến người bệnh hình dung ngay đến phòng mổ, dao kéo và những vết rạch lớn trên cơ thể. Thay vào đó, một robot nhỏ đến mức khó nhìn thấy bằng mắt thường có thể đảm nhận nhiều nhiệm vụ tinh vi bên trong mạch máu. Công nghệ đầy hứa hẹn này xuất phát từ Đại học Stanford, Mỹ, nơi các nhà nghiên cứu phát triển thiết bị có khả năng bơi trong lòng tĩnh mạch.
Robot được bác sĩ điều khiển không dây từ bên ngoài cơ thể, thông qua những sóng điện từ truyền vào khu vực điều trị. Cách vận hành này mở ra khả năng đưa thiết bị đến những vị trí mà phương pháp phẫu thuật thông thường khó tiếp cận hoặc gây tổn thương đáng kể. Người bệnh vì thế có thể giảm phần nào áp lực từ các thủ thuật xâm lấn, dù công nghệ vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện.
Các mẫu robot phẫu thuật trước đây thường phải mang theo những khối pin tương đối lớn để cung cấp năng lượng cho hoạt động bên trong cơ thể. Nhờ tiến bộ kỹ thuật, bộ phận cung cấp năng lượng nay đã được thu nhỏ xuống kích thước chỉ tương đương một hạt gạo. Sự thu nhỏ này giúp thiết bị trở nên linh hoạt hơn, đồng thời tạo điều kiện để robot di chuyển trong những không gian đặc biệt chật hẹp của hệ tuần hoàn.
Một ứng dụng quan trọng của robot là vận chuyển dược phẩm trực tiếp đến đúng bộ phận đang cần điều trị, thay vì để thuốc phân tán khắp cơ thể. Phương pháp uống hoặc tiêm truyền thống có thể khiến thuốc tác động toàn thân, kéo theo nhiều tác dụng phụ không mong muốn. Khi đưa thuốc đến vị trí cụ thể, thiết bị có tiềm năng nâng cao độ chính xác điều trị, theo đúng mục tiêu mà bác sĩ đặt ra.
Robot cũng có thể thực hiện những thao tác phẫu thuật hết sức tinh tế tại các khu vực khó tiếp cận bằng dụng cụ thông thường. Ngoài ra, nó còn có thể làm nhiệm vụ thám sát, thu thập hình ảnh bên trong cơ thể rồi gửi dữ liệu ra bên ngoài cho đội ngũ y tế. Nếu được phát triển thành công, công nghệ này có thể thay thế một phần các phương pháp nội soi xâm lấn hiện hành.
Nguyên mẫu robot phẫu thuật đa năng do nhóm nghiên cứu giới thiệu có kích thước khoảng 3 x 4mm, một con số rất nhỏ so với các thiết bị y tế truyền thống. Các nhà khoa học còn cho rằng thiết bị trong tương lai có thể tiếp tục được thu nhỏ, giúp mở rộng phạm vi hoạt động bên trong cơ thể. Kích thước giảm không chỉ tạo thuận lợi cho việc di chuyển, mà còn có thể hạn chế mức độ can thiệp cần thiết trong điều trị.
Đầu tháng 4/2012, tại Hội nghị quốc tế về vi mạch rắn ứng dụng trong điều trị, giáo sư Ada Poon đã chứng minh hiệu quả hoạt động của loại robot mới. Thiết bị có thể tự hành trong một số tình huống hoặc nhận lệnh điều khiển không dây từ bên ngoài cơ thể bệnh nhân. Khả năng kết hợp giữa tự động hóa và điều khiển trực tiếp giúp robot thích ứng với nhiều yêu cầu khác nhau trong quá trình điều trị.
Theo giáo sư Ada Poon, thiết bị đáp ứng nhiều yêu cầu quan trọng của công nghệ y khoa hiện đại, từ điều trị bằng dược phẩm đến chẩn đoán và phẫu thuật xâm lấn tối thiểu. Báo Daily Mail cho biết robot mới nhất của bà có thể di chuyển trong mạch máu, đưa thuốc đến vị trí cụ thể, phân tích dấu hiệu bệnh, loại trừ cục máu đông hoặc loại bỏ mảng bám trong động mạch xơ cứng. Bí quyết nằm ở hệ thống điều khiển bằng sóng radio không dây, đồng thời những sóng này cũng cung cấp năng lượng giúp robot di chuyển theo dòng máu.