Bỏ qua điều hướng

Robot cá chép thông minh

Robot cá chép thông minh
Nguồn ảnh: KhoaHoc.tv

Chú cá chép nhựa uyển chuyển bơi trong hồ nước ở phòng thí nghiệm. Đầu hình tam giác, gắn chi chít thiết bị điện tử và bản vi mạch. Thân cá được ghép bởi ba khớp nhựa rời. Đuôi được làm bởi một mảnh nhựa dẻo, mềm. Chú cá bơi dọc vành hồ, thỉnh thoảng lại đổi hướng khi gặp chướng ngại vật. “ Bọn mình...

Chú cá chép nhựa uyển chuyển bơi trong hồ nước ở phòng thí nghiệm. Đầu hình tam giác, gắn chi chít thiết bị điện tử và bản vi mạch. Thân cá được ghép bởi ba khớp nhựa rời. Đuôi được làm bởi một mảnh nhựa dẻo, mềm. Chú cá bơi dọc vành hồ, thỉnh thoảng lại đổi hướng khi gặp chướng ngại vật.

Bọn mình đã mất tám tháng để cho ra đời con cá chép này” - Nguyễn Đăng Phúc, sinh viên năm cuối khoa cơ khí máy Trường đại học Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, chia sẻ.


Nhóm chế tạo và robot cá chép - Ảnh: Ngọc Trường.

Robot cá chép là công trình của nhóm bốn sinh viên cùng lớp: Đặng Minh Nhật, Nguyễn Đăng Phúc, Phạm Thành Trung và Lê Minh Thuận. Công trình chế tạo robot cá chép của nhóm bắt đầu từ tháng 8-2010, với những ngày hè lúc nào cũng “trực chiến” ở phòng thực nghiệm open lab của trường. Nhóm mất hơn một tháng để chỉ nhìn ngắm cá chép thật bơi lội ra sao, rồi mất gần ba tháng để robot cá chép “chịu” nước.

Tính toán kỹ lưỡng hết rồi vậy mà khi thả xuống nước cá lại bị thấm”, Thuận nhớ lại. Cuối cùng chú cá robot cũng chịu bơi với các lớp keo silicon tản nhiệt và các bản mạch điện đều được phủ nhựa thông.

Robot cá chép là một dạng robot mô phỏng sinh học. Mặc dù về hình thức chú robot cá chép này trông không được bắt mắt như cá chép thật nhưng lại có nhiều tính năng thông minh.Cảm biến hồng ngoại giúp cá biết tránh các vật cản. Cảm biến gia tốc giúp cá giữ được thăng bằng khi bị lực đẩy tác động. Một la bàn điện tử giúp cá có thể định hướng di chuyển theo lập trình”, Thành Trung giải thích các đặc điểm nổi bật của cá chép robot.

Camera được gắn vào mắt cá có thể truyền tín hiệu hình ảnh về máy tính khi cá xuống nước. Cảm biến áp suất cũng cho phép người sử dụng xác định được độ sâu cá đang bơi. Ngoài ra, cá chép robot có thể tự hoạt động theo chương trình lập trình sẵn mà không cần có sự can thiệp liên tục của người sử dụng.

Hiện nay chú cá này có thể bơi ở mực nước sâu 1m với vận tốc 1cm/giây. “Cá chép robot có thể đảm nhiệm những công việc như giám sát đê điều, xác định các nguồn ô nhiễm dưới nước, cũng như sử dụng trong nghiên cứu thực nghiệm về xác định lực, dòng chảy dưới nước hay được quan tâm như một đồ chơi công nghệ cao”, Minh Nhật nói.

Lĩnh vực chế tạo robot dưới nước hiện nay khá mới, nhóm sinh viên cho biết các tài liệu trên mạng cũng còn hiếm hoi để hướng dẫn chi tiết cách chế tạo robot. Nhưng “vì bức xúc trước thực trạng TP.HCM có quá nhiều kênh rạch bị ô nhiễm trầm trọng”, nên nhóm bốn chàng sinh viên này mới bạo gan thử sức với đề tài có nhiều tính ứng dụng này, Minh Nhật cho biết thêm.

Trong hồ nước của phòng thí nghiệm, một chú cá chép bằng nhựa uyển chuyển bơi dọc theo vành hồ, thỉnh thoảng đổi hướng khi phát hiện chướng ngại vật phía trước. Phần đầu cá có hình tam giác, gắn nhiều thiết bị điện tử cùng các bản vi mạch, trong khi thân cá ghép từ ba khớp nhựa rời. Chiếc đuôi làm bằng một mảnh nhựa dẻo giúp robot chuyển động mềm mại hơn, tạo cảm giác gần giống một sinh vật đang bơi dưới nước. Đằng sau chuyển động tưởng như đơn giản ấy là tám tháng nghiên cứu, thử nghiệm không ngừng nghỉ của bốn sinh viên cùng lớp. Nhóm gồm Đặng Minh Nhật, Nguyễn Đăng Phúc, Phạm Thành Trung và Lê Minh Thuận, đều thuộc khoa cơ khí máy, Trường đại học Sư phạm kỹ thuật TP.HCM. Nguyễn Đăng Phúc cho biết nhóm bắt đầu chế tạo robot cá chép từ tháng 8-2010, trải qua nhiều ngày hè trực chiến tại phòng thực nghiệm open lab của trường. Trước khi lắp ráp, nhóm dành hơn một tháng chỉ để quan sát cá chép thật bơi lội, nhằm tìm hiểu cách thân, khớp nối và đuôi phối hợp khi di chuyển. Sau giai đoạn quan sát, các sinh viên tiếp tục mất gần ba tháng để khiến robot có thể chịu được môi trường nước mà không làm hỏng hệ thống bên trong. Lê Minh Thuận kể rằng dù đã tính toán kỹ lưỡng, robot vẫn bị thấm nước ngay trong những lần đầu được thả xuống hồ thử nghiệm. Khó khăn ấy buộc nhóm phải tìm cách bảo vệ từng bộ phận, từ bảng mạch điện đến các vị trí nối giữa những chi tiết nhựa trong thân cá. Cuối cùng, robot có thể hoạt động dưới nước nhờ các lớp keo silicon tản nhiệt, còn những bản mạch điện được phủ nhựa thông để hạn chế nước xâm nhập. Thành quả là một robot cá chép chưa thật bắt mắt như cá chép tự nhiên, nhưng sở hữu nhiều tính năng vượt xa vẻ ngoài thô ráp ban đầu. Robot cá chép thuộc dạng robot mô phỏng sinh học, nghĩa là hình dáng và cách vận hành được xây dựng dựa trên đặc điểm chuyển động của một sinh vật thật. Cảm biến hồng ngoại giúp robot nhận biết vật cản, từ đó chủ động tránh va chạm thay vì chỉ bơi theo một hướng cố định. Cảm biến gia tốc hỗ trợ robot giữ thăng bằng khi chịu tác động từ lực đẩy, giúp chuyển động dưới nước ổn định hơn trong quá trình vận hành. Một chiếc la bàn điện tử được tích hợp để robot định hướng theo chương trình lập trình sẵn, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào người điều khiển bên ngoài. Camera gắn tại vị trí mắt cá có thể truyền tín hiệu hình ảnh về máy tính, giúp người sử dụng quan sát môi trường khi robot xuống nước. Cảm biến áp suất cũng cho phép xác định độ sâu mà robot đang bơi, bổ sung thông tin cần thiết cho những nhiệm vụ khảo sát dưới mặt nước. Không chỉ nhận lệnh liên tục, robot cá chép còn có thể tự hoạt động theo chương trình được cài đặt trước trong bộ điều khiển của nhóm. Hiện tại, robot có khả năng bơi ở mực nước sâu một mét, với vận tốc khoảng một centimet mỗi giây, phù hợp cho các thử nghiệm quy mô nhỏ. Tốc độ chưa cao, nhưng khả năng tự định hướng, truyền hình ảnh và ghi nhận độ sâu khiến sản phẩm trở thành mô hình công nghệ đáng chú ý. Theo Đặng Minh Nhật, robot cá chép có thể hỗ trợ giám sát đê điều, xác định nguồn ô nhiễm dưới nước và phục vụ nghiên cứu lực, dòng chảy. Sản phẩm cũng có thể được quan tâm như một món đồ chơi công nghệ cao, bởi hình thức mô phỏng cá thật kết hợp nhiều cảm biến cùng khả năng tự vận hành. Nhóm nhận định lĩnh vực chế tạo robot dưới nước khi đó còn khá mới, trong khi tài liệu trực tuyến hướng dẫn chi tiết việc xây dựng những thiết bị như vậy vẫn hiếm. Chính tình trạng nhiều kênh rạch tại TP.HCM bị ô nhiễm trầm trọng đã thôi thúc bốn sinh viên mạnh dạn thử sức với đề tài giàu tính ứng dụng này. Dù thiếu tài liệu tham khảo, nhóm vẫn kiên trì quan sát, thiết kế, chống thấm và lập trình, từng bước biến ý tưởng về một chú cá máy thành sản phẩm hoạt động được. Robot cá chép vì thế không chỉ là bài tập kỹ thuật của sinh viên, mà còn cho thấy công nghệ mô phỏng sinh học có thể hướng tới những vấn đề thực tế dưới mặt nước.