Bỏ qua điều hướng

Sau sự ghi nhận của UNESCO, là gì?

Sau sự ghi nhận của UNESCO, là gì?
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Di sản văn hóa và thiên nhiên đang ngày càng được chú trọng bảo vệ và được coi như một nguồn lực phát triển quan trọng. Ðể nguồn lực ấy có sức sống bền vững, đồng hành cùng sự phát triển của đất nước, chúng ta cần biết đặt bảo tồn ở vị trí nền tảng, cộng đồng ở vị trí chủ thể và sáng tạo ở vị trí cầ...

Thời gian qua, các di sản được UNESCO ghi danh là niềm tự hào của những giá trị Việt trong dòng chảy văn hóa nhân loại. Khi mỗi di sản được vinh danh, hình ảnh và thông tin về di sản ấy sẽ xuất hiện trên các phương tiện truyền thông quốc tế, những lễ vinh danh được tổ chức hoành tráng, lượng khách du lịch tăng vọt, địa phương kỳ vọng những cơ hội mới cho phát triển du lịch, đầu tư và tăng trưởng kinh tế.

Lúc này, câu hỏi đặt ra: Sau sự ghi nhận của UNESCO, là gì? Việc được UNESCO ghi danh vừa là đích đến và cũng là thời điểm mở ra một hành trình trách nhiệm mới. Năm 2026, Việt Nam kỷ niệm tròn 50 năm gia nhập UNESCO (1976-2026), một hành trình nửa thế kỷ đã đưa ngày càng nhiều các giá trị văn hóa, thiên nhiên và tri thức của Việt Nam đến với cộng đồng quốc tế, đồng thời chủ trương đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là thời điểm phù hợp để chúng ta cùng tìm câu trả lời cho câu hỏi trên.

Một hành trình phong phú của di sản Việt Nam

Tổng hợp hệ thống các danh hiệu UNESCO, có thể thấy di sản Việt Nam hiện diện trên bản đồ thế giới rất phong phú và đa dạng, với: 9 di sản thế giới gồm 6 di sản văn hóa, 2 di sản tự nhiên và 1 di sản hỗn hợp; 17 di sản được ghi danh vào danh sách di sản phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp; 11 di sản tư liệu; 11 khu dự trữ sinh quyển thế giới; 4 công viên địa chất toàn cầu; 8 danh nhân văn hóa; 3 nhà khoa học trẻ tài năng thế giới; 1 thành phố vì hòa bình; 3 thành phố sáng tạo; 5 thành phố học tập toàn cầu và 3 Trung tâm nghiên cứu UNESCO. Trong đó có những di sản đã trở thành biểu tượng quốc gia và điểm đến thu hút khách du lịch quốc tế như: Quần thể di tích Cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, Đô thị cổ Hội An, Vịnh Hạ Long, Quần thể danh thắng Tràng An,...

Những hình thức ghi nhận khác nhau về cơ chế và ý nghĩa pháp lý cho thấy di sản Việt Nam đa dạng từ những cảnh quan thiên nhiên, công trình cổ kính, nghi lễ truyền thống đến ký ức, tri thức, nhân cách, tác phẩm, sáng tạo và những giá trị tinh thần được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Về bản chất, UNESCO không phải là một cơ quan cấp “chứng nhận chất lượng” để di sản đương nhiên được bảo vệ hay trở thành một sản phẩm du lịch. Ghi danh là sự công nhận giá trị gắn với những cam kết của quốc gia có di sản về cơ chế quản lý, bảo vệ, duy trì và trao truyền phù hợp.

Bảo tồn di sản đúng nghĩa bao gồm quá trình nhận diện, gìn giữ, bảo vệ và trao truyền cho các thế hệ sau những giá trị vật chất và tinh thần của quá khứ, tạo điều kiện cho di sản tiếp tục tồn tại và phát triển trong đời sống đương đại, người dân tiếp tục thực hành, thế hệ trẻ đón nhận, nghệ nhân sống được với nghề, giá trị văn hóa tiếp tục được giữ gìn và sáng tạo, tạo được nguồn thu từ di sản để quay trở lại phục vụ công tác bảo tồn. Vì vậy, sau ghi danh cần một chu trình mới, từ ghi danh → bảo vệ → trao truyền → phát huy → tạo giá trị → tái đầu tư cho bảo tồn. Cũng cần khẳng định, đây là một vòng tuần hoàn, không phải một đường thẳng có đích đến.

422.jpg
Khách du lịch háo hức tham quan, trải nghiệm phố cổ Hội An, thành phố Đà Nẵng. Ảnh | Thành Đạt

Bảo tồn & phát huy: Bài toán cân bằng

Bảo tồn và phát huy là bài toán bảo đảm sự cân bằng giữa giữ gìn giá trị cốt lõi của di sản và đưa di sản vào đời sống cộng đồng. Bài toán này cần cân bằng giữa ba yếu tố: Giá trị văn hóa - lợi ích cộng đồng - giá trị kinh tế.

Giá trị văn hóa là gốc rễ, là nền tảng quyết định bản sắc và sức sống lâu dài của một di sản. Cộng đồng là chủ thể bảo đảm sức sống của di sản, vì di sản chỉ thật sự sống khi người dân còn thực hành, trao truyền, tạo ra giá trị và tìm thấy giá trị của chính mình trong đó. Giá trị kinh tế là động lực, cũng là nguồn lực giúp di sản có thêm điều kiện tồn tại, tạo sinh kế, giá trị tăng trưởng và tái đầu tư cho bảo tồn.

Đô thị cổ Hội An từ khi được UNESCO ghi danh năm 1999 đã được tập trung tu bổ, bảo vệ hệ thống di tích và từng bước gắn bảo tồn với đời sống dân cư, du lịch và phát triển kinh tế. Sự hòa quyện của không gian di sản, nơi kiến trúc, phong tục, ẩm thực, nghề truyền thống, lễ hội và sinh hoạt của cộng đồng cùng tạo nên bản sắc đã đưa Đô thị cổ Hội An thành điểm đến hấp dẫn với du khách trong và ngoài nước.

Tuy nhiên, Hội An ngày nay, dưới áp lực của lượng khách du lịch lớn, dân cư gốc dần rời phố cổ nhường chỗ cho các homestay, hoạt động dịch vụ và cửa hàng lưu niệm. Sự thay đổi chức năng khiến phố cổ có xu hướng “thương mại hóa, trình diễn hóa”. Không gian di sản có nguy cơ trở thành một không gian đẹp, nhưng thiếu đi sinh khí và chiều sâu ký ức của một đô thị cổ.

Nếu chỉ bảo tồn văn hóa mà không chú trọng đến sinh kế cho người dân, di sản sẽ trở thành “hiện vật” không có sức sống; nếu chỉ chú trọng đến cộng đồng và sinh kế trước mắt, di sản sẽ đứng trước nguy cơ xói mòn, biến dạng; nếu chỉ tập trung khai thác kinh tế, nguy cơ “thương mại hóa di sản” tăng cao, di sản biến thành “sản phẩm” và không còn giữ được bản sắc. Cân bằng ba yếu tố trên là bài toán đặt ra không riêng cho nhà quản lý mà cả các nhà hoạch định chính sách, nhà kinh tế, nhà nghiên cứu, các doanh nghiệp và cả cộng đồng dân cư.

Từ di sản đến công nghiệp văn hóa

Trong nền kinh tế hiện đại, công nghiệp văn hóa có thể tạo ra những tiền đề để di sản “sống khỏe”. Từ hoa văn, kỹ thuật thủ công, làn điệu dân ca, câu chuyện lịch sử, trò chơi, ẩm thực, tín ngưỡng... đều có thể trở thành nguồn cảm hứng sáng tác cho mỹ thuật, điện ảnh, xuất bản, giáo dục, nghệ thuật biểu diễn, thời trang và các sản phẩm số... Lúc này, di sản không còn là đối tượng “tham quan”, mà trở thành nguồn lực của sáng tạo và kinh tế. Với tài nguyên di sản và tiềm năng của sáng tạo, đổi mới, khoa học và công nghệ của Việt Nam, phát triển công nghiệp văn hóa thật sự là hướng đi chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

Chúng ta đã từng thấy những họa tiết trống đồng xuất hiện trong tuần lễ thời trang lụa Thái Lan của nhà thiết kế Vũ Việt Hà, ca khúc mang âm hưởng dân ca quan họ “Bắc Bling” của ca sĩ Hòa Minzy ở Top 1 trending toàn cầu, hay Tràng An, Hạ Long, Huế... xuất hiện trên các sản phẩm điện ảnh đình đám quốc tế như Kong: Skull Island, Indochine... Bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta cũng chứng kiến tình trạng “thực hành thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được “sân khấu hóa” đưa ra khỏi không gian “thiêng” một cách thô bạo; những lễ hội vùng miền đều na ná giống nhau, không còn bản sắc; những di tích lịch sử tu bổ được “bê-tông hóa”, hoa văn họa tiết sai thời kỳ lịch sử...

Ranh giới giữa phát huy và khai thác quá mức, vì thế, cần được xác lập bằng tri thức, khoa học, thực tế chịu tải của di sản chứ không thể chỉ bằng những con số tăng trưởng và cảm tính của người thực hiện.

Vì vậy, sau sự công nhận và ghi danh của UNESCO, không nên chỉ lấy du khách, doanh thu, sản phẩm du lịch mới làm thước đo, mà cần trả lời các câu hỏi: nghệ nhân có sống được với nghề không, người trẻ có tiếp tục thực hành không, cộng đồng có thật sự hưởng lợi không? Giá trị văn hóa còn được lưu giữ và trao truyền không? Những nguồn lực mới có quay trở lại nuôi dưỡng di sản không? Nếu câu trả lời là có, sự công nhận và ghi danh của UNESCO mới thật sự được chuyển hóa thành một nguồn lực phát triển của đất nước.

Công nghiệp văn hóa nếu chảy theo chiều của di sản -> thị trường -> doanh thu, mới chỉ là khai thác di sản. Công nghiệp văn hóa cần hình thành dòng chảy di sản -> sáng tạo -> sản phẩm -> thị trường -> lợi ích cộng đồng -> tái đầu tư -> bảo tồn, để hình thành một chuỗi giá trị bền vững và liên tục.

ƯU ĐÀM

Sự ghi nhận của UNESCO dành cho hàng loạt di sản văn hóa, thiên nhiên và tri thức Việt Nam không chỉ là niềm tự hào quốc tế mà còn mở ra một hành trình trách nhiệm mới. Hướng tới mốc kỷ niệm 50 năm gia nhập UNESCO (1976-2026), Việt Nam đứng trước yêu cầu cấp thiết phải biến danh hiệu thành động lực phát triển bền vững. Việc chuyển trọng tâm từ công nhận sang quản lý hiệu quả trở thành bài toán chiến lược cho các địa phương sở hữu di sản. Hiện nay, Việt Nam tự hào sở hữu 9 di sản thế giới, 17 di sản phi vật thể, 11 di sản tư liệu cùng nhiều danh hiệu cao quý khác của UNESCO. Những danh thắng như Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long hay Quần thể Tràng An đã khẳng định thương hiệu quốc gia và thu hút đông đảo du khách toàn cầu. Sự đa dạng này phản ánh kho tàng di sản phong phú từ cảnh quan, công trình cổ đến tri thức truyền thống được trao truyền qua nhiều thế hệ. Bản chất việc vinh danh không phải tấm chứng nhận chất lượng cho thương mại hóa du lịch, mà là cam kết quốc gia về bảo vệ và duy trì di sản. Mô hình quản lý di sản bền vững đòi hỏi một vòng tuần hoàn khép kín từ bảo vệ, trao truyền, phát huy giá trị đến tái đầu tư cho bảo tồn. Trong chu trình đó, cộng đồng địa phương giữ vai trò chủ thể, nghệ nhân được sống với nghề và thế hệ trẻ chủ động tiếp nối các giá trị văn hóa.