Sáu tháng sau, xung đột rơi vào thế giằng co mong manh. Dầu vẫn được xuất đi, nhưng với khối lượng ít hơn, và giá xăng vẫn ở mức cao. Tàu bè vẫn di chuyển, song thưa thớt hơn trước xung đột và phải đi theo những tuyến đường khác. Giới đầu tư cổ phiếu và trái phiếu thì phần lớn đã chuyển sự chú ý sang những vấn đề khác.
Dưới đây là bức tranh toàn cảnh thị trường sau nửa năm xung đột theo đánh giá của báo New York Times.
Giá dầu: Cao hơn trước xung đột, nhưng thấp hơn nhiều so với lo ngại
Ở mức 89 USD/thùng, giá dầu hiện cao hơn 23% so với thời điểm trước 28/2, kéo theo giá của hàng loạt mặt hàng từ xăng cho đến nhựa.
Tuy vậy, nếu 6 tháng trước bạn hỏi các lãnh đạo ngành năng lượng dự đoán giá dầu sẽ ra sao sau một cuộc xung đột kéo dài quanh eo biển Hormuz, hầu hết sẽ đưa ra con số cao hơn nhiều. Nền kinh tế toàn cầu đã xoay xở tốt một cách đáng ngạc nhiên khi thiếu hụt nguồn năng lượng vốn nhập từ vùng Vịnh, một trong những khu vực sản xuất dầu quan trọng nhất thế giới.

Trạm trung chuyển dầu của đường ống dẫn dầu Eilat-Ashkelon tại Eilat, Israel (Ảnh: Getty).
Có vài lý do giải thích cho điều này. Các nước phụ thuộc nhiều vào dầu Trung Đông đã chủ động cắt giảm tiêu thụ. Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump cùng nhiều chính phủ khác xả kho dự trữ dầu chiến lược. Các công ty ở châu Mỹ khai thác nhiều dầu hơn dự kiến, trong khi nhiều doanh nghiệp vùng Vịnh tìm được cách xuất khẩu dầu bất chấp rủi ro khi đi qua eo biển. Và một diễn biến ít ai ngờ tới: Trung Quốc - quốc gia nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới - lại cắt giảm mạnh lượng mua vào.
Nhìn về phía trước: Diễn biến giá dầu sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có việc Mỹ và Iran còn tiếp tục cản trở giao thông qua eo biển Hormuz trong bao lâu, và liệu Trung Quốc có tăng nhập khẩu trở lại hay không.
Hiện tại, thị trường dường như đang dần thích nghi với một "trạng thái bình thường mới". Mối lo lớn hơn nằm ở chỗ: các cuộc xung đột ở Trung Đông và giữa Nga với Ukraine, đã phá hủy nhiều nhà máy lọc dầu, khiến năng lực chuyển hóa dầu thô thành xăng và dầu diesel của thế giới suy giảm, đẩy giá các loại nhiên liệu này lên cao hơn nhiều.
Giá xăng dầu tại Mỹ: Tác động dễ thấy nhất với người tiêu dùng
Giá dầu thô tăng đồng nghĩa giá xăng tăng, và đây có lẽ là hệ quả rõ rệt nhất của xung đột đối với người tiêu dùng Mỹ. Theo hiệp hội ô tô AAA, giá xăng không chì trung bình toàn quốc tại Mỹ tính đến thứ sáu (28/8) là 4,09 USD/gallon (khoảng 1,08 USD/lít), tăng 38% kể từ khi chiến tranh nổ ra.
Giá xăng tăng chủ yếu do dầu thô đắt lên, theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), dầu thô chiếm khoảng một nửa giá bán lẻ tại trạm xăng. Phần còn lại chủ yếu là thuế, chi phí vận chuyển và lợi nhuận của các trạm xăng. Tuy nhiên, tác động không đồng đều giữa các khu vực: giá xăng trung bình ở bang California là 5,65 USD/gallon, trong khi ở Texas chỉ 3,63 USD/gallon.
Giá dầu diesel còn tăng nhanh hơn cả xăng, tiến sát mức kỷ lục thiết lập năm 2022. Ở mức 5,61 USD/gallon, giá diesel đã tăng gần 50% so với trước chiến tranh.

Khu vực eo biển Hormuz (Ảnh: BBN).
Diesel là nguồn nhiên liệu vận hành phần lớn nền kinh tế Mỹ, từ tàu hỏa, xe tải đến các loại máy móc hạng nặng. Khi giá tăng, doanh nghiệp thường chuyển chi phí sang người tiêu dùng, kéo theo tác động lan rộng đến lạm phát.
Nguyên nhân giá diesel leo thang là do số nhà máy lọc dầu sản xuất diesel giảm sút. Sản lượng diesel tại Trung Đông sụt giảm giữa lúc giao tranh, cộng hưởng với việc năng lực lọc dầu của Nga suy yếu sau các đợt tấn công của Ukraine vào các cơ sở lọc dầu nước này.
Nhìn về phía trước: Giới phân tích năng lượng thường ví biến động giá nhiên liệu là "tăng như tên lửa, giảm như lông vũ", nghĩa là giá xăng bám sát rất nhanh mỗi khi giá dầu tăng, nhưng lại giảm rất chậm khi giá dầu hạ. Khi giá dầu thô có lúc quay về mức trước xung đột trong khoảng cuối tháng 6, đầu tháng 7, giá xăng trung bình vẫn cao hơn 30% so với trước chiến sự. Xu hướng này được dự báo sẽ còn tiếp diễn.
Vận tải biển Trung Đông rối loạn
Giao thông hàng hải qua eo biển Hormuz, tuyến đường huyết mạch từng vận chuyển một phần năm lượng dầu của thế giới trước chiến tranh, đến nay vẫn gần như tê liệt.
Trước chiến tranh, mỗi ngày có hơn 100 tàu đi qua eo biển nằm giữa Iran và Oman này. Nay lưu lượng chỉ còn nhỏ giọt: theo công ty dữ liệu hàng hải Kpler, gần đây chỉ khoảng hơn chục tàu qua lại mỗi ngày.
Nhà Trắng đã kêu gọi các tàu tiếp tục hành trình, với việc Hải quân Mỹ hộ tống tàu qua phần phía nam eo biển, trong vùng biển của Oman. Theo Đô đốc Brad Cooper, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Trung tâm Mỹ (CENTCOM), tính đến tuần này, lực lượng Mỹ đã rà phá xong số thủy lôi mà Iran cài đặt tại eo biển.
Dù vậy, hành trình qua eo biển vẫn đầy hiểm nguy. Hai thủy thủ đã thiệt mạng trong hai tuần qua, một người khác mất tích. Tính từ đầu cuộc chiến, đã có ít nhất 71 vụ tấn công nhằm vào tàu thuyền, khiến 19 thủy thủ thiệt mạng.
Hồi tháng 6, Iran và Mỹ từng ký thỏa thuận mở lại eo biển, và trong ba ngày, hơn 60 tàu đã qua lại mỗi ngày. Nhưng thỏa thuận nhanh chóng đổ vỡ, và quân đội Mỹ tái áp đặt lệnh phong tỏa các cảng của Iran. Về phần mình, Iran tìm cách khẳng định quyền kiểm soát bằng việc lập ra cơ chế thu phí đối với tàu thuyền đi qua eo biển, tuyến đường vốn trước đây miễn phí.
Tình trạng hỗn loạn buộc nhiều hãng vận tải biển phải đi vòng, tránh eo biển Hormuz. Saudi Arabia, nước sản xuất dầu lớn nhất khu vực, đã chuyển hướng, tăng cường xuất khẩu dầu thô qua Biển Đỏ.
Nhưng ngay sau đó, lực lượng Houthi do Iran hậu thuẫn, hiện kiểm soát một phần lãnh thổ Yemen, lại đe dọa phong tỏa tàu Saudi Arabia trên Biển Đỏ. Phương án thay thế mới, đi qua phía bắc Biển Đỏ, phức tạp và tốn kém hơn. Lượng năng lượng xuất khẩu từ vùng Vịnh vẫn thấp hơn mức trước chiến tranh.
Nhìn về phía trước: Chưa rõ khi nào, thậm chí theo một số chuyên gia là liệu có bao giờ, hoạt động vận tải biển trong khu vực trở lại như trước chiến tranh. Tuần này, Iran và Oman (một đồng minh của Mỹ) cho biết đang thảo luận kế hoạch điều phối giao thông qua eo biển, song chưa có nhiều chi tiết về cách thức vận hành của một thỏa thuận như vậy.
Chứng khoán đi lên, trái phiếu lung lay
Qua nhiều năm, giới đầu tư đã học được rằng không nên quá bận tâm đến các biến động địa chính trị. Thị trường chứng khoán từng sụt giảm mạnh nhưng ngắn ngủi sau các đợt phong tỏa vì đại dịch Covid-19, sau khi nổ ra xung đột Nga - Ukraine, hay sau vụ Hamas tấn công Israel, rồi đều nhanh chóng phục hồi và lập đỉnh mới.
Chỉ số S&P 500 giảm trong tháng đầu chiến sự, sau đó hồi phục và liên tiếp lập kỷ lục mới, lần gần nhất vào giữa tháng 8. Hiện chỉ số này đã cao hơn 13% so với thời điểm xung đột bắt đầu.
Khi giá dầu trên thị trường tương lai ổn định dưới ngưỡng 90 USD/thùng cho đến cuối năm, giới đầu tư chứng khoán phần lớn đã dồn sự chú ý sang hướng khác, đặc biệt là khoản lợi nhuận khổng lồ của các công ty dẫn đầu lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), với kết quả kinh doanh hằng quý liên tục vượt kỳ vọng.

Chủ tịch Nvidia Jensen Huang (Ảnh: HT)
Tuần này, "gã khổng lồ" công nghệ Nvidia công bố doanh thu quý tăng hơn gấp đôi, đạt gần 100 tỷ USD, và chưa có dấu hiệu chậm lại.
Kỳ vọng về dòng tiền mà Nvidia và các công ty hưởng lợi từ cơn sốt AI có thể tạo ra trong tương lai càng lớn, giá cổ phiếu của họ càng tăng, và với giá trị vốn hóa lên tới hàng nghìn tỷ USD, những cổ phiếu này có sức chi phối rất lớn đối với các chỉ số chung. Cho đến nay, lợi nhuận doanh nghiệp bùng nổ đã phần nào che chắn cho nhà đầu tư chứng khoán trước những mối lo khác.
Trong khi đó, giới đầu tư trái phiếu tỏ ra lo lắng hơn. Lợi suất trái phiếu tăng, vốn diễn biến ngược chiều với giá, phản ánh kỳ vọng tăng trưởng kinh tế cao hơn nhờ AI, nhưng đồng thời cũng cho thấy nỗi lo ngày càng lớn về lạm phát, nợ công và bất ổn địa chính trị. Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm, thước đo có ảnh hưởng đến lãi suất vay mua nhà và vay kinh doanh, đã tăng lên gần 4,7%, từ mức khoảng 4% sáu tháng trước.
Nhìn về phía trước: Theo thời gian, lợi suất trái phiếu cao sẽ kéo mặt bằng lãi suất trong toàn nền kinh tế đi lên, kể cả với các công ty AI đang vay hàng tỷ USD để xây dựng trung tâm dữ liệu. Chi phí lãi vay cao thường ăn mòn lợi nhuận doanh nghiệp, một mối lo đối với nhà đầu tư cổ phiếu.
"Điểm mấu chốt với nhà đầu tư là lãi suất sẽ còn neo cao trong thời gian dài hơn," ông Torsten Slok, kinh tế trưởng của Apollo Global Management, nhận định.
(Nguồn: The New York Times)