Bỏ qua điều hướng

Sẽ giảm ít nhất 20% cơ sở đại học công lập, chọn 3-5 đại học tinh hoa

Sẽ giảm ít nhất 20% cơ sở đại học công lập, chọn 3-5 đại học tinh hoa
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Chiến lược phát triển giáo dục đại học đến năm 2035 đặt mục tiêu giảm ít nhất 20% số cơ sở công lập, chọn 30 cơ sở trọng điểm và 3-5 đại học tinh hoa.

Giảm ít nhất 20% cơ sở đại học công lập, chọn 3-5 đại học tinh hoa - Ảnh 1.

Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm tại Trường đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TP.HCM) - Ảnh: TRỌNG NHÂN

Phó thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định 1810 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó xác định giáo dục đại học là hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia, giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo nhân lực trình độ cao, nghiên cứu và chuyển giao tri thức.

Giảm ít nhất 20% cơ sở đại học công lập, chọn 30 cơ sở trọng điểm

Một mục tiêu đến năm 2035 là giảm tối thiểu 20% số cơ sở giáo dục đại học công lập so với năm 2025. Các cơ sở không đạt chuẩn có thể bị sáp nhập hoặc giải thể. Một số viện nghiên cứu chuyên ngành sẽ được sáp nhập vào cơ sở đại học mạnh trên địa bàn.

Các cơ sở giáo dục đại học đa lĩnh vực sẽ được chuyển về Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc địa phương quản lý. Những cơ sở trực thuộc bộ, ngành, cơ quan trung ương được tổ chức lại để tập trung thực hiện nhiệm vụ chiến lược và nhiệm vụ chuyên môn đặc thù.

Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao xây dựng đề án sắp xếp mạng lưới đại học công lập, trình Thủ tướng phê duyệt vào tháng 4-2027. 

Chiến lược cũng đặt mục tiêu lựa chọn khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm theo ngành, lĩnh vực và vùng. Trong số này, 3-5 cơ sở được định hướng phát triển thành đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.

Theo kế hoạch, danh sách 30 cơ sở trọng điểm và 3-5 đại học định hướng tinh hoa phải được phê duyệt trong tháng 12-2026. Mỗi cơ sở phải có nhiệm vụ, chỉ tiêu và đề án cam kết riêng. Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức đánh giá với sự tham gia của hội đồng chuyên gia độc lập.

Nguồn lực sẽ được phân bổ theo sứ mạng, chất lượng và kết quả hoạt động. Chiến lược yêu cầu bảo đảm chi tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học, ưu tiên cơ sở trọng điểm, đại học định hướng tinh hoa, ngành chiến lược và ngành thiết yếu.

Chính sách học phí cũng được điều chỉnh theo hướng nâng trần tương xứng với chất lượng, tính đúng, tính đủ chi phí. Nhà nước sẽ rà soát, mở rộng học bổng cho nhóm yếu thế, ngành chiến lược, ngành thiết yếu và tín dụng ưu đãi cho sinh viên. 

Đến năm 2030, chiến lược đặt mục tiêu 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn, tỉ lệ học đại học trong nhóm dân số 18-22 tuổi đạt 38%, người học sau đại học chiếm 10% và người học STEM chiếm 35% quy mô ở mỗi trình độ. Các mức tương ứng đến năm 2035 là 100%, 45%, 15% và 40%.

Theo dõi việc làm, thu nhập sau 1 năm, 3 năm và 5 năm

Chất lượng đào tạo sẽ được đo bằng năng lực người học, việc làm, thu nhập và phản hồi của đơn vị sử dụng lao động. Đến năm 2030, chiến lược đặt mục tiêu 85% người tốt nghiệp có việc làm phù hợp trong vòng 12 tháng. Tỉ lệ này tăng lên 90% vào năm 2035.

Các trường phải lập bộ phận hoặc đầu mối hỗ trợ nghề nghiệp và việc làm, duy trì mạng lưới doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và cựu sinh viên. Dữ liệu người tốt nghiệp phải được thu thập theo khóa học, ngành, lĩnh vực và trình độ đào tạo.

Theo nhiệm vụ kèm theo chiến lược, đến tháng 9-2027, hệ thống này phải có báo cáo về mức độ phù hợp giữa việc làm với ngành học, thời gian tìm được việc, thu nhập trung vị khởi điểm, mức tăng thu nhập và tiến triển nghề nghiệp sau 1 năm, 3 năm và 5 năm tốt nghiệp. Các trường chịu trách nhiệm về độ chính xác của dữ liệu đã cung cấp.

Dữ liệu giáo dục đại học sẽ được kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia và dữ liệu chuyên ngành về dân cư, khoa học, công nghệ, tài chính, bảo hiểm, thuế và việc làm. Kết quả được dùng để hoạch định chính sách, kiểm tra chất lượng và phân bổ nguồn lực.

Chiến lược yêu cầu đánh giá các ngành đào tạo hằng năm, dừng ngành không phù hợp, điều chỉnh quy mô hoặc mở rộng ngành có nhu cầu nhân lực và hiệu quả cao. Các lĩnh vực được ưu tiên gồm khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, logistics, công nghệ tài chính, nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ biển và môi trường.

Kiến thức và năng lực trí tuệ nhân tạo sẽ được đưa vào tất cả chương trình đào tạo. Các trường phát triển chương trình chuyên sâu về AI, chương trình liên ngành theo mô hình AI+X hoặc X+AI, đồng thời đổi cách dạy, kiểm tra và đánh giá người học.

Đến năm 2035, tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ phải đạt 50%. Việt Nam đặt mục tiêu thu hút 5.000 giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia quốc tế và trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại các trường trong nước. 

Chiến lược cũng đặt mục tiêu có 10 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 trường hàng đầu châu Á và hai cơ sở thuộc nhóm 100 thế giới theo lĩnh vực đào tạo.

Sẽ giảm ít nhất 20% cơ sở đại học công lập, chọn 3-5 đại học tinh hoa - Ảnh 3.Hà Nội đặt mục tiêu có 2 đại học vào top 150 châu Á năm 2030

Chính phủ giao 12 cơ sở giáo dục đại học tại Hà Nội phát triển thành các đại học dẫn dắt, trong đó phấn đấu có ít nhất 2 trường vào top 150 châu Á năm 2030.

Phó thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định 1810, phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045. Văn bản xác định giáo dục đại học là hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia, giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo nhân lực trình độ cao, nghiên cứu và chuyển giao tri thức. Đây là định hướng lớn nhằm tổ chức lại mạng lưới, nâng chất lượng đào tạo, gắn hoạt động của các trường với nhu cầu phát triển đất nước. Một mục tiêu đáng chú ý đến năm 2035 là giảm tối thiểu 20% số cơ sở giáo dục đại học công lập so với năm 2025. Những cơ sở không đạt chuẩn có thể được sáp nhập hoặc giải thể, trong khi một số viện nghiên cứu chuyên ngành sẽ nhập vào các trường đại học mạnh trên cùng địa bàn. Các cơ sở đại học đa lĩnh vực sẽ được chuyển về Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc địa phương quản lý, tùy theo yêu cầu tổ chức và nhiệm vụ. Những cơ sở đang trực thuộc bộ, ngành hoặc cơ quan trung ương cũng được tổ chức lại, nhằm tập trung vào nhiệm vụ chiến lược và những lĩnh vực chuyên môn đặc thù. Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao xây dựng đề án sắp xếp mạng lưới đại học công lập, trình Thủ tướng phê duyệt vào tháng 4-2027. Theo định hướng này, hệ thống tương lai sẽ giảm đầu mối, tăng tính chuyên môn hóa, đồng thời phân định rõ trách nhiệm quản lý. Chiến lược đặt mục tiêu lựa chọn khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm theo ngành, lĩnh vực và vùng, tạo các trung tâm dẫn dắt cho từng nhóm nhiệm vụ. Trong số đó, 3-5 cơ sở được định hướng phát triển thành đại học tinh hoa theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới. Danh sách 30 cơ sở trọng điểm cùng 3-5 đại học định hướng tinh hoa phải được phê duyệt trong tháng 12-2026, với cam kết riêng cho từng cơ sở. Mỗi trường được lựa chọn phải xây dựng nhiệm vụ, chỉ tiêu và đề án cam kết cụ thể, sau đó trải qua đánh giá có sự tham gia của hội đồng chuyên gia độc lập. Nguồn lực sẽ không phân bổ dàn đều, mà dựa trên sứ mạng, chất lượng và kết quả hoạt động của từng cơ sở. Chiến lược đồng thời yêu cầu bảo đảm chi tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học, ưu tiên cơ sở trọng điểm, đại học tinh hoa, ngành chiến lược và ngành thiết yếu. Chính sách học phí được điều chỉnh theo hướng nâng trần tương xứng với chất lượng đào tạo, đồng thời tính đúng và tính đủ các khoản chi phí. Nhà nước sẽ rà soát, mở rộng học bổng cho nhóm yếu thế, sinh viên theo học ngành chiến lược hoặc thiết yếu, cùng các chương trình tín dụng ưu đãi. Đến năm 2030, mục tiêu là 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn, tỷ lệ học đại học trong nhóm 18-22 tuổi đạt 38%, sau đại học đạt 10%, STEM chiếm 35% mỗi trình độ. Đến năm 2035, các tỷ lệ tương ứng phải đạt 100% cơ sở đạt chuẩn, 45% người trẻ học đại học, 15% người học sau đại học và 40% người học STEM ở mỗi trình độ. Chất lượng đào tạo sẽ được đo qua năng lực người học, việc làm, thu nhập và phản hồi từ các đơn vị sử dụng lao động, thay vì chỉ dựa vào hoạt động giảng dạy. Mục tiêu việc làm cũng được đặt rõ, với 85% người tốt nghiệp có việc phù hợp trong vòng 12 tháng vào năm 2030, tăng lên 90% vào năm 2035. Các trường phải lập bộ phận hoặc đầu mối hỗ trợ nghề nghiệp, duy trì mạng lưới doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và cựu sinh viên để hỗ trợ người học sau tốt nghiệp. Dữ liệu phải được thu thập theo khóa học, ngành, lĩnh vực và trình độ, gồm mức độ phù hợp việc làm, thời gian tìm việc, thu nhập trung vị khởi điểm, mức tăng thu nhập và tiến triển nghề nghiệp. Theo nhiệm vụ kèm chiến lược, đến tháng 9-2027, hệ thống phải có báo cáo sau 1 năm, 3 năm và 5 năm tốt nghiệp, trong đó các trường chịu trách nhiệm về độ chính xác dữ liệu.