Làng cổ nép mình bên dòng Đăk Bla
Con đường bê tông từ trung tâm Kon Tum dẫn về làng cổ Kon K'Tu, xã Đăk Rơ Wa (Quảng Ngãi), uốn mình bên dòng Đăk Bla lững lờ trôi. Phía xa, những ngọn núi xanh nối nhau trầm mặc, ôm lấy ngôi làng cổ của người Ba Na đã tồn tại qua nhiều thế hệ.

Nhà rông ở làng Kon K'Tu, xã Đăk Rơ Wa, Quảng Ngãi
ẢNH: P.A
Gần trưa, Kon K'Tu bình yên đến lạ. Tiếng xe ngoài phố dường như đã lùi xa, nhường chỗ cho nhịp sống chậm rãi của một bản làng bên sông.
Dưới nắng cuối thu vàng nhạt, những ngôi nhà sàn truyền thống nép bên nhau, gợi dáng vẻ một miền sơn cước còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa bản địa.

Những chiếc ghe gối đầu bên bải sông làng Kon K'Tu
ẢNH: P.A
Ngồi trước hiên nhà già A Banh (74 tuổi), chúng tôi nghe ông kể chuyện làng. Điều khiến Kon K'Tu trở nên đặc biệt không chỉ là cảnh quan ven sông, mà còn ở những nếp nhà sàn, nhà rông và sinh hoạt cộng đồng mang đậm dấu ấn văn hóa Ba Na.

Một góc làng Kon K'Tu
ẢNH: P.A
Trong làng vẫn còn khoảng 20 ngôi nhà sàn giữ được nét kiến trúc truyền thống. Ở trung tâm là nhà rông lợp tranh, mái vươn cao như chiếc gùi úp ngược sau chuyến đi rừng.
Cách đó vài trăm mét là ngôi nhà thờ cổ trầm mặc, tạo nên một nét riêng trong không gian văn hóa của ngôi làng.

Lối xuống bên sông làng
ẢNH: P.A
Từ những lối nhỏ, chúng tôi men xuống bờ sông. Dọc lối đi, một số homestay của người Ba Na nép mình bên dòng nước. Dễ thương, hiền hòa, không ai muốn rời đi.
Ít ai ngờ rằng ở ngôi làng ấy, có một ký ức buồn mà người Kon K'Tu vẫn truyền lại cho con cháu. Đó là trận đại dịch đậu mùa từng khiến ngôi làng đông đúc trở nên hoang vắng.
Tên làng Kon K'Tu và trận dịch trăm năm trước
Khi nắng chiều chỉ còn le lói trên dòng Đăk Bla, người Ba Na lần lượt trở về từ rẫy. Kon K'Tu hôm nay có gần 150 hộ, với gần 700 nhân khẩu.
Trẻ nhỏ quây quần bên nhà rông, tiếng nói cười vang lên giữa những mái nhà sàn. Ít ai hình dung chừng một thế kỷ trước, nơi đây từng trải qua biến cố khiến nhiều gia đình ly tán, cả cộng đồng phải rời bỏ nơi cư trú.

Một nhà sàn ở làng Kon K'Tu
ẢNH: P.A
Bên hiên nhà sàn, chúng tôi nghe già A Banh chậm rãi kể lại chuyện xưa qua lời các thế hệ đi trước. Năm nay đã già, không làm già làng nữa nhưng lời kể của ông rành mạch như ngày nào. Ông bảo, theo lời kể được lưu truyền trong làng, Kon K'Tu từng có hơn 100 nóc nhà, dân cư đông đúc chẳng ít hơn hiện nay.
Rồi dịch đậu mùa xuất hiện, ban đầu ở một vài gia đình, sau đó lan rộng. Người mắc bệnh ngày càng nhiều, có gia đình không còn người sống sót. Nỗi sợ hãi bao trùm, nhiều người phải rời làng đi tìm nơi trú ngụ khác.
"Các già làng trước kể, khi dịch đậu mùa xảy ra, có con giun trắng to nằm dưới lòng đất. Trên mặt đất, vô số giun nhỏ. Thời gian ấy, người làng chết rất nhiều", già A Banh kể, mắt hướng về phía núi rừng xa xăm.
Từ hơn 100 nóc nhà, theo lời kể của các già làng, Kon K'Tu chỉ còn lại 3 gia đình. Trong tiếng Ba Na, "Kon" nghĩa là làng, còn "K'Tu" được người địa phương giải thích là hoang vắng, không người. Có lẽ vì thế, cái tên ấy trở thành dấu tích ngôn ngữ về một biến cố mà người làng không muốn quên.
Bà Y Soi, vợ già A Banh, nhớ lại khi về làm dâu năm 1975, Kon K'Tu chỉ có 12 hộ. "Nhà nào cũng nhỏ thó như chuồng gà. Buồn lắm!", bà kể.

Một lớp học ở làng Kon K'Tu
ẢNH: P.A
Từ thưa vắng bóng người, làng Kon K'Tu đã dần hồi sinh. Những gia đình trở về dựng nhà, làm rẫy, sinh con đẻ cái, nối lại cuộc sống bên dòng Đăk Bla. Ngày nay, tiếng trẻ thơ và nhịp sống thường nhật đã phủ lên ngôi làng một diện mạo khác, nhưng ký ức về đại dịch vẫn nằm sâu trong những câu chuyện của người già.
Nói về trận dịch, những người từng gắn bó lâu năm với địa phương cũng nhắc đến biến cố qua lời kể của cư dân bản địa. Tuy nhiên, năm xảy ra dịch bệnh tại Kon K'Tu vẫn chưa được xác định chính xác.
Một tư liệu đáng chú ý là Dân Làng Hồ của linh mục thừa sai Pierre Dourisboure (còn gọi là Cố Ân), được xuất bản lần đầu năm 1929. Tác phẩm ghi lại trận dịch đậu mùa từng gây thảm họa cho cư dân bản địa ở Kon Tum. Theo tư liệu, ban đầu, người dân nghi ngờ các giáo sĩ truyền đạo mang bệnh đến.

Một góc làng Kon K'Tu
ẢNH: P.A

Dòng Đăk Bla chảy về làng Kon K'Tu
ẢNH: P.A
Dịch bệnh được kể là bắt đầu từ một giáo dân người Kinh đến giáo xứ Rơ Hai, sau đó lây sang các giáo sĩ và cư dân địa phương, rồi lan rộng ra nhiều nơi. Trận dịch kéo dài 2 năm, được cho là đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều người Kon Tum.
Linh mục Dourisboure hoạt động truyền giáo tại Kon Tum trong giai đoạn 1850 - 1885. Vì vậy, trận dịch ông ghi chép có thể diễn ra vào nửa sau thế kỷ 19. Dẫu vậy, chưa đủ cơ sở để khẳng định biến cố được mô tả trong sách, chính là trận dịch mà người Kon K'Tu truyền lại.
Dòng chảy thời gian có thể làm phai mờ những chi tiết cụ thể nhưng tên làng vẫn còn đó. Kon K'Tu hôm nay chỉ còn "hoang vắng" trong ký ức.
Từ làng đón khách Tây đến nỗi lo trước mặt
Những năm trước, Kon K'Tu từng là điểm đến được nhiều du khách nước ngoài yêu thích. Họ tìm đến đây để trải nghiệm cuộc sống của người Ba Na, ngủ trong nhà sàn, đi thuyền trên sông Đăk Bla, xem đan lát, dệt thổ cẩm, tạc tượng gỗ và thưởng thức tiếng cồng chiêng giữa không gian núi rừng.

Một homestay ở làng Kon K'Tu
ẢNH: P.A
Ông A Hùng, 62 tuổi, người Ba Na ở thôn Kon K'Tu vẫn duy trì nghề đan lát và tạc tượng gỗ truyền thống. Ngoài thời gian đi rẫy, ông cùng vợ tranh thủ đan gùi, nia, dệt vải và làm những vật dụng phục vụ sinh hoạt gia đình. Đó là công việc thường ngày và còn là cách giữ nghề xưa của cha ông.
Trong căn nhà sàn, khung dệt và những dụng cụ đan lát, tạc tượng được gìn giữ như một phần đời sống. Vợ ông, bà Y Mứk, biết dệt thổ cẩm từ năm 15 tuổi. Trước đây, bà dệt vải may quần áo cho gia đình. Khi du lịch cộng đồng phát triển, bà làm thêm khăn, áo, ba lô, ví, túi xách và một số sản phẩm thủ công để bán cho khách.
Theo bà Y Mứk, nghề dệt thổ cẩm được truyền từ mẹ sang con gái. Từ nhỏ, các bé gái đã làm quen với khung dệt, học cách phối màu, thêu hoa văn và sử dụng lá, rễ cây rừng để nhuộm vải. Mỗi tấm thổ cẩm vì thế không chỉ có giá trị sử dụng mà còn chứa đựng kinh nghiệm và thẩm mỹ của cộng đồng.

Góc làng dễ thương
ẢNH: P.A
Màu sắc truyền thống của thổ cẩm Ba Na thường là trắng, đỏ và đen, gắn với quan niệm và đời sống tinh thần của người dân. Trong từng đường dệt, người phụ nữ gửi vào đó ký ức về núi rừng, dòng sông và những tập tục được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Thế nhưng, du lịch cộng đồng ở Kon K'Tu đang đối mặt với không ít khó khăn. Một người từng làm homestay tại làng cho biết, trước đây khách nước ngoài đến khá đông, lưu trú tại nhà dân để tìm hiểu văn hóa bản địa. Sau đó, lượng khách giảm dần, nhất là từ thời kỳ Covid-19 và những biến động tiếp theo.
Khách trong nước vẫn có người tìm đến nhưng phần lớn chỉ ghé bãi sông vui chơi, tự mang thức ăn và mở loa hát hò. Theo người dân, kiểu khách này ít sử dụng dịch vụ lưu trú, ăn uống hay trải nghiệm văn hóa nên nguồn thu của các hộ làm du lịch không đáng kể. Một số người từng tổ chức chèo ván đứng trên sông để phục vụ du khách chụp ảnh, trải nghiệm nhưng sau đó dừng lại vì lo ngại vấn đề an toàn.
"Sau dịch Covid-19, rồi những thay đổi tiếp theo, gần như không còn khách như trước", người này chia sẻ, đồng thời bày tỏ tiếc nuối khi các hoạt động hỗ trợ du lịch chưa tạo được động lực đủ mạnh để người dân tiếp tục đầu tư.
Không chỉ du lịch, không gian sinh hoạt truyền thống ven sông cũng đang đổi khác. Theo người dân, bến sông từng đông vui mỗi chiều, là nơi cộng đồng gặp gỡ và gắn bó. Nay nhiều người ít xuống sông hơn vì nước đục, cảnh quan thay đổi. Một số khu đất ven sông được rào lại sau những đợt sốt đất, khiến không gian vốn quen thuộc của làng không còn thông thoáng như trước.
Những thay đổi ấy khiến người dân lo lắng về sự mai một của bản sắc. Một số thanh niên đi làm xa, khi trở về mang theo lối sống khác, nhậu nhẹt, chạy xe gây ồn ào, làm ảnh hưởng hình ảnh ngôi làng.
Dẫu vậy, Kon K'Tu vẫn còn những người như vợ chồng ông A Hùng bền bỉ với nghề truyền thống, những mái nhà sàn còn lưu giữ kiến trúc Ba Na và dòng Đăk Bla vẫn chảy qua làng. Đó là những nền tảng để cộng đồng gìn giữ di sản, đồng thời tìm hướng phát triển du lịch phù hợp với đời sống địa phương.
Bên dòng Đăk Bla, cái tên Kon K'Tu vẫn nhắc nhớ một thời làng vắng. Còn hôm nay, điều người Ba Na mong muốn là ngôi làng tiếp tục đông vui, những nghề xưa mãi lưu truyền và dòng sông lại trở thành nơi kết nối con người, văn hóa với những bước chân tìm đến từ muôn phương. (còn tiếp)