Bỏ qua điều hướng
•

Sửa đổi chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông: Cần bắt đầu từ đâu?

Sửa đổi chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông: Cần bắt đầu từ đâu?
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Việc rà soát, hoàn thiện chương trình, sách giáo khoa theo hướng giảm tải, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với thực tiễn đặt ra yêu cầu cần có đánh giá toàn diện về thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018, để từ đó có căn cứ khoa học, minh chứng thực tiễn điều chỉnh nội dung, phương thức tổ chứ...

Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về rà soát, hoàn thiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông theo hướng giảm tải, thiết thực, hiệu quả, phù hợp tình hình và yêu cầu thực tiễn đặt ra yêu cầu đánh giá toàn diện hiệu quả thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Vấn đề không chỉ là giảm bớt kiến thức mà quan trọng hơn là xác định đúng những năng lực nền tảng học sinh cần đạt, từ đó điều chỉnh nội dung, phương thức tổ chức giáo dục và hệ thống học liệu trên cơ sở khoa học và minh chứng thực tiễn.

Cần đánh giá Chương trình giáo dục phổ thông 2018 sau một chu kỳ triển khai ở từng cấp học

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đánh dấu bước chuyển quan trọng từ giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất và năng lực người học. Tuy nhiên, một chương trình giáo dục dù được xây dựng công phu vẫn cần được kiểm chứng thông qua thực tiễn triển khai để xác định mức độ phù hợp, tính khả thi và hiệu quả thực hiện. Đặc biệt, với một chương trình có sự thay đổi lớn về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá, việc đánh giá thực trạng sau triển khai có ý nghĩa quan trọng để tiếp tục hoàn thiện chương trình.

Những học sinh đầu tiên học Chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở lớp 1 chưa hoàn thành toàn bộ 12 năm học. Vì vậy, hiện chưa có đủ dữ liệu theo dõi một thế hệ học sinh học liên tục từ lớp 1 đến lớp 12 để đánh giá đầy đủ tác động tích lũy và tính liên thông của toàn bộ chương trình giáo dục phổ thông.

Một vấn đề cần được nhìn nhận là trước khi triển khai đại trà, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 chưa được thực nghiệm toàn bộ chương trình theo một chu kỳ học tập hoàn chỉnh, mà chủ yếu thực nghiệm một số nội dung, bài học và tiết học được lựa chọn. Việc thực nghiệm này có thể cung cấp những minh chứng ban đầu về tính phù hợp và khả thi của các nội dung cụ thể, nhưng chưa đủ để đánh giá toàn diện khối lượng kiến thức, mức độ yêu cầu, tính liên thông và tác động tích lũy của chương trình trong suốt một cấp học. Những bất cập về sự trùng lặp, độ khó, thời lượng hoặc khả năng đáp ứng yêu cầu cần đạt có thể chỉ bộc lộ rõ khi chương trình được triển khai liên tục trong thực tế.

Đến nay, Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã được triển khai ở tất cả các lớp từ lớp 1 đến lớp 12. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc hoàn thành triển khai chương trình ở toàn bộ các lớp với việc một thế hệ học sinh đã trải qua trọn vẹn chương trình từ lớp 1 đến lớp 12. Do chương trình được áp dụng theo lộ trình cuốn chiếu, những học sinh đầu tiên học Chương trình 2018 ở lớp 1 chưa hoàn thành toàn bộ 12 năm học. Vì vậy, hiện chưa có đủ dữ liệu theo dõi một thế hệ học sinh học liên tục từ lớp 1 đến lớp 12 để đánh giá đầy đủ tác động tích lũy và tính liên thông của toàn bộ chương trình giáo dục phổ thông.

z8143491235288-b27579c113d619772fd5fb28b4a5856e.jpg
(Ảnh minh họa: ĐẠI THẮNG)

Trong bối cảnh đó, đánh giá chương trình theo từng cấp học là cách tiếp cận phù hợp và khả thi ở giai đoạn hiện nay. Đối với mỗi cấp học đã hoàn thành một chu kỳ triển khai, có thể đánh giá mức độ đáp ứng mục tiêu và yêu cầu cần đạt, sự phù hợp của nội dung, cấu trúc chương trình, thời lượng và kết quả học tập của học sinh. Cách tiếp cận này vừa khai thác được những minh chứng thực tế đã có, vừa giúp nhận diện kịp thời những bất cập để điều chỉnh mà không phải chờ đến khi một thế hệ học sinh hoàn thành toàn bộ 12 năm học.

Tuy nhiên, đánh giá theo cấp học không có nghĩa là xem xét từng cấp học một cách độc lập. Cần đặc biệt chú trọng sự liên thông giữa các cấp học, nhất là những kiến thức, kỹ năng và năng lực nền tảng có tính kế thừa. Đồng thời, cần tiếp tục theo dõi các nhóm học sinh được học liên tục theo Chương trình 2018 để có thêm minh chứng về hiệu quả dài hạn, làm cơ sở cho những điều chỉnh tiếp theo.

Giảm tải phải bắt đầu từ các yêu cầu cần đạt

Quá tải chương trình không chỉ xuất phát từ số lượng kiến thức mà còn từ mức độ yêu cầu, độ phức tạp của nội dung, thời lượng và cách thức kiểm tra, đánh giá. Cùng một nội dung kiến thức, nếu chỉ yêu cầu học sinh giải thích hoặc vận dụng trong tình huống quen thuộc có thể phù hợp, nhưng nếu đòi hỏi phân tích chuyên sâu hoặc giải quyết vấn đề phức tạp thì có thể vượt quá khả năng của đa số học sinh ở một độ tuổi nhất định.

Giảm tải đúng nghĩa không phải hạ thấp chất lượng mà là tập trung vào những năng lực cốt lõi, giúp học sinh học ít hơn nhưng đạt được tốt hơn những yêu cầu quan trọng.

Giảm tính hàn lâm cũng không đồng nghĩa với đơn giản hóa kiến thức một cách cơ học hoặc làm suy giảm tính khoa học của chương trình.

Vì vậy, giảm tải cần bắt đầu từ việc rà soát hệ thống yêu cầu cần đạt của từng môn học, từng lớp học và cấp học. Mỗi yêu cầu cần được đánh giá về tính thiết yếu, mức độ phù hợp với lứa tuổi, tính liên thông, khả năng thực hiện và khả năng đo lường. Trên cơ sở đó, xác định rõ những kiến thức, kỹ năng và năng lực nền tảng mà mọi học sinh cần đạt, phân biệt với những nội dung chuyên sâu dành cho học sinh có nhu cầu và khả năng phát triển cao hơn.

Giáo dục phổ thông có nhiệm vụ trang bị nền tảng học vấn và những năng lực cần thiết cho mọi công dân, không phải chuyển tải toàn bộ hệ thống tri thức chuyên sâu của các ngành khoa học. Nếu không phân định rõ ranh giới này, chương trình rất dễ biến những yêu cầu nâng cao thành yêu cầu bắt buộc đối với tất cả học sinh. Giảm tải đúng nghĩa không phải hạ thấp chất lượng mà là tập trung vào những năng lực cốt lõi, giúp học sinh học ít hơn nhưng đạt được tốt hơn những yêu cầu quan trọng.

Giảm tính hàn lâm cũng không đồng nghĩa với đơn giản hóa kiến thức một cách cơ học hoặc làm suy giảm tính khoa học của chương trình. Cần điều chỉnh cách lựa chọn, tổ chức và yêu cầu tiếp cận kiến thức sao cho phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông. Tính hàn lâm thể hiện khi chương trình quá chú trọng các khái niệm, lý thuyết, thuật ngữ, công thức hoặc những nội dung chuyên sâu mà chưa làm rõ ý nghĩa của chúng đối với việc hình thành năng lực của học sinh.

Chẳng hạn, trong các môn khoa học tự nhiên, việc yêu cầu ghi nhớ quá nhiều công thức hoặc trường hợp đặc biệt có thể làm tăng khối lượng học tập nhưng chưa chắc giúp học sinh hiểu sâu bản chất của hiện tượng. Trong khi đó, tập trung vào những nguyên lý cốt lõi và khả năng vận dụng để giải thích hiện tượng có thể mang lại hiệu quả giáo dục tốt hơn.

Do đó, cần rà soát cấu trúc kiến thức của từng môn học, xác định nội dung nền tảng phải giữ, nội dung trùng lặp cần tinh giản và những kiến thức chuyên sâu có thể chuyển sang chuyên đề nâng cao hoặc tài liệu tham khảo. Việc tinh giản phải bảo đảm tính hệ thống, tính liên thông giữa các lớp học và cấp học, tránh cắt bỏ những kiến thức cần thiết cho quá trình học tập tiếp theo.

Tăng tính thực tiễn phải gắn với phương thức hình thành và đánh giá năng lực

Tăng tính thực tiễn không đơn thuần là bổ sung thí dụ đời sống hoặc tăng số lượng hoạt động trải nghiệm trong sách giáo khoa. Quan trọng hơn, chương trình phải xác định rõ học sinh có thể sử dụng kiến thức đã học để làm gì, trong những tình huống nào và ở mức độ nào.

Nếu yêu cầu cần đạt chỉ dừng ở việc trình bày hoặc mô tả kiến thức, hoạt động dạy học thường thiên về truyền đạt và ghi nhớ. Ngược lại, khi yêu cầu cần đạt được cụ thể hóa thành những hành vi như giải thích hiện tượng, phân tích tình huống, lựa chọn giải pháp hoặc đưa ra quyết định có căn cứ, giáo viên sẽ có cơ sở tổ chức hoạt động học tập hướng đến vận dụng kiến thức.

Tuy nhiên, không phải mọi nội dung đều cần gắn trực tiếp với tình huống đời sống. Những kiến thức lý thuyết nền tảng vẫn có vai trò quan trọng trong phát triển tư duy logic, tư duy trừu tượng và năng lực học tập lâu dài. Vấn đề là bảo đảm sự cân đối hợp lý giữa kiến thức nền tảng, khả năng vận dụng và phát triển tư duy.

Việc tăng tính thực tiễn cũng đòi hỏi đổi mới kiểm tra, đánh giá. Nếu chương trình đã tinh giản nhưng đề kiểm tra, đề thi vẫn tập trung vào kiến thức chi tiết, chuyên sâu hoặc những dạng bài vượt quá yêu cầu cần đạt, giáo viên và học sinh vẫn phải dành nhiều thời gian cho việc học thêm, luyện tập và chuẩn bị thi.

Do đó, cần rà soát yêu cầu cần đạt, ma trận đề kiểm tra và yêu cầu của các kỳ thi, bảo đảm mỗi câu hỏi có sự liên kết rõ ràng với yêu cầu cần đạt và đánh giá đúng mức độ năng lực mà chương trình hướng tới. Đối với những hoạt động giáo dục hình thành năng lực chủ yếu thông qua trải nghiệm và thực hành, cần ưu tiên đánh giá bằng quan sát, sản phẩm học tập, nhiệm vụ thực tiễn và quá trình tham gia hoạt động, thay vì chỉ sử dụng bài kiểm tra kiến thức.

Đặc biệt, cần phân biệt đánh giá mức độ đạt chuẩn giáo dục phổ thông với đánh giá nhằm phân hóa học sinh phục vụ tuyển sinh. Không nên để yêu cầu tuyển sinh làm gia tăng một cách không phù hợp khối lượng và mức độ kiến thức bắt buộc của chương trình phổ thông. Nếu không đổi mới đồng bộ kiểm tra, đánh giá, mục tiêu giảm tải khó có thể chuyển thành giảm áp lực học tập thực chất đối với học sinh.

Điều chỉnh chương trình trước, xác định hình thức sách giáo khoa và học liệu sau

Chương trình và sách giáo khoa có mối quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất. Chương trình xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt và nội dung giáo dục cốt lõi; sách giáo khoa là một trong những học liệu cụ thể hóa những yêu cầu đó thành các bài học và hoạt động học tập. Vì vậy, nếu chưa rà soát đầy đủ chương trình mà đã tiến hành chỉnh sửa sách giáo khoa, việc điều chỉnh dễ tập trung vào dung lượng bài học hoặc cách trình bày, trong khi những bất cập về yêu cầu cần đạt và cấu trúc nội dung vẫn chưa được giải quyết.

Việc hoàn thiện bộ sách giáo khoa sử dụng thống nhất trên toàn quốc còn phải xác định môn học, hoạt động giáo dục nào thực sự cần sách giáo khoa; môn học, hoạt động giáo dục nào nên ưu tiên những hình thức học liệu khác. Đây cũng là hướng giảm tải thiết thực, góp phần giảm chi phí học liệu và hạn chế tình trạng sách giáo khoa chi phối phương thức tổ chức hoạt động giáo dục.

Một vấn đề cần được cân nhắc trong quá trình hoàn thiện bộ sách giáo khoa là liệu tất cả các môn học và hoạt động giáo dục có nhất thiết phải có sách giáo khoa riêng dành cho học sinh hay không. Trong giáo dục phát triển năng lực, sách giáo khoa là phương tiện hỗ trợ dạy học, không phải mục tiêu hay con đường duy nhất để thực hiện chương trình. Sự cần thiết và hình thức học liệu phải được xác định dựa trên đặc điểm, mục tiêu và phương thức hình thành năng lực của từng môn học, hoạt động giáo dục.

1787846162911-2596068128889391194-2596068128889391194-51d63de5f5c3edda52805577e31c531c.jpg
(Ảnh: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam)

Đối với những môn học có hệ thống kiến thức khoa học mang tính cấu trúc và kế thừa, sách giáo khoa giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức nội dung học tập một cách hệ thống. Tuy nhiên, với những môn học và hoạt động giáo dục mà năng lực được hình thành chủ yếu thông qua thực hành, trải nghiệm, tương tác và giải quyết tình huống thực tiễn, việc thiết kế sách giáo khoa theo các bài học cố định có thể chưa thực sự phù hợp với bản chất hoạt động giáo dục.

Chẳng hạn, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp hướng đến hình thành năng lực thích ứng với cuộc sống, thiết kế và tổ chức hoạt động, định hướng nghề nghiệp thông qua trải nghiệm thực tế. Nếu quá chú trọng sách giáo khoa với hệ thống bài học, nội dung cần ghi nhớ và câu hỏi trả lời, hoạt động này có nguy cơ bị chuyển thành một môn học thiên về truyền đạt kiến thức. Tương tự, đối với một số nội dung giáo dục thể chất, nghệ thuật hoặc giáo dục địa phương, cần cân nhắc hình thức học liệu phù hợp với đặc trưng thực hành, sáng tạo và điều kiện tổ chức hoạt động.

Điều đó không có nghĩa là những môn học và hoạt động giáo dục này không cần học liệu. Thay vì mặc nhiên xây dựng sách giáo khoa riêng, có thể ưu tiên tài liệu hướng dẫn giáo viên, ngân hàng chủ đề, tình huống, nhiệm vụ thực hành, học liệu số và công cụ đánh giá năng lực. Nhà trường và giáo viên được chủ động lựa chọn hoạt động phù hợp với điều kiện địa phương và đặc điểm học sinh, trong khi vẫn bảo đảm thực hiện đầy đủ yêu cầu cần đạt của chương trình.

img-0581.jpg
Học sinh trường nội trú tại xã biên giới trong một hoạt động giáo dục. (Ảnh: NGUYỄN MẠNH)

Vì vậy, việc hoàn thiện bộ sách giáo khoa sử dụng thống nhất trên toàn quốc không chỉ cần trả lời câu hỏi viết nội dung gì và viết như thế nào, mà còn phải xác định môn học, hoạt động giáo dục nào thực sự cần sách giáo khoa; môn học, hoạt động giáo dục nào nên ưu tiên những hình thức học liệu khác. Đây cũng là hướng giảm tải thiết thực, góp phần giảm chi phí học liệu và hạn chế tình trạng sách giáo khoa chi phối phương thức tổ chức hoạt động giáo dục.

Điều chỉnh phải dựa trên minh chứng, bảo đảm tính kế thừa và có lộ trình

Một chương trình được triển khai trên phạm vi toàn quốc, với sự khác biệt lớn về điều kiện kinh tế - xã hội, đội ngũ giáo viên và đặc điểm học sinh, không thể được đánh giá đầy đủ chỉ bằng nhận xét của chuyên gia hoặc khảo sát ý kiến giáo viên. Cần kết hợp đánh giá chuyên môn với phân tích dữ liệu thực tế về kết quả học tập, mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt, thời lượng thực hiện và những khó khăn trong tổ chức dạy học.

Việc điều chỉnh cần dựa trên hệ thống tiêu chí thống nhất. Mỗi quyết định giữ nguyên, tinh giản, điều chỉnh hoặc bổ sung nội dung đều cần có căn cứ và minh chứng rõ ràng.

Đặc biệt, cần phân tích kết quả theo từng môn học, lớp học, cấp học và các nhóm học sinh ở những điều kiện giáo dục khác nhau. Nếu một yêu cầu cần đạt có tỷ lệ học sinh đáp ứng thấp ở nhiều vùng miền, kể cả những cơ sở giáo dục có điều kiện thuận lợi, cần xem xét khả năng yêu cầu đó quá cao, nội dung chưa phù hợp hoặc thời lượng chưa đủ. Tuy nhiên, tỷ lệ đạt thấp không mặc nhiên chứng minh chương trình quá khó, bởi nguyên nhân còn có thể xuất phát từ phương pháp dạy học, điều kiện triển khai hoặc công cụ đánh giá.

Vì vậy, việc điều chỉnh cần dựa trên hệ thống tiêu chí thống nhất, bao gồm tính thiết yếu, sự phù hợp với chuẩn đầu ra, mức độ khó, tính thực tiễn, tính liên thông, tính khả thi và khả năng đánh giá. Mỗi quyết định giữ nguyên, tinh giản, điều chỉnh hoặc bổ sung nội dung đều cần có căn cứ và minh chứng rõ ràng.

Bên cạnh đó, chương trình giáo dục phổ thông có tính liên thông giữa các lớp học và cấp học. Việc điều chỉnh một yêu cầu cần đạt có thể tác động đến cấu trúc của cả môn học, thậm chí đến những môn học có liên quan. Chương trình còn gắn với sách giáo khoa, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và phương thức kiểm tra, đánh giá. Những thay đổi thiếu đồng bộ hoặc triển khai quá nhanh có thể tạo ra sự xáo trộn và phát sinh áp lực mới đối với nhà trường, giáo viên và học sinh.

Do đó, cần phân định những nội dung có thể điều chỉnh ngay, những nội dung cần thử nghiệm và những thay đổi phải có lộ trình dài hơn. Đặc biệt, những điều chỉnh liên quan đến cấu trúc môn học, lựa chọn môn học ở cấp trung học phổ thông và phương thức thi, tuyển sinh phải được đánh giá tác động đối với các khóa học sinh đang theo học, bảo đảm tính ổn định và quyền lợi của người học.

Mục tiêu không phải xây dựng lại một chương trình hoàn toàn mới mà là kế thừa những giá trị đã được khẳng định, khắc phục những bất cập và hoàn thiện những nội dung chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Nâng cao chất lượng giáo dục thực chất

Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về rà soát, hoàn thiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông là cơ hội quan trọng để tiếp tục hoàn thiện chương trình theo hướng thiết thực, hiệu quả và phù hợp hơn với học sinh.

Hiệu quả của quá trình này phụ thuộc trước hết vào việc xác định đúng nội dung và mức độ cần điều chỉnh. Điều cần hướng tới không phải là giảm số trang sách giáo khoa, giảm số bài học hay giảm yêu cầu học tập một cách cơ học, mà là xây dựng một chương trình có mục tiêu rõ ràng, yêu cầu cần đạt phù hợp, nội dung thiết yếu, cấu trúc hợp lý và có khả năng triển khai hiệu quả.

Sửa đổi chương trình giáo dục phổ thông cần bắt đầu từ đánh giá thực trạng và rà soát chuẩn đầu ra, lấy dữ liệu thực tiễn làm căn cứ, lấy sự phát triển năng lực của học sinh làm mục tiêu và lấy tính khoa học, khả thi làm nguyên tắc. Đồng thời, cần xác định đúng vai trò của sách giáo khoa và các hình thức học liệu đối với từng môn học, hoạt động giáo dục.

Một chương trình tốt không nhất thiết là chương trình chứa đựng nhiều kiến thức nhất, mà là chương trình giúp học sinh đạt được những phẩm chất, năng lực nền tảng cần thiết, đồng thời tạo điều kiện để mỗi học sinh phát triển theo khả năng và định hướng của mình.

Vì vậy, điều chỉnh chương trình giáo dục phổ thông cần bắt đầu từ đánh giá thực trạng và rà soát chuẩn đầu ra, lấy dữ liệu thực tiễn làm căn cứ, lấy sự phát triển năng lực của học sinh làm mục tiêu và lấy tính khoa học, khả thi làm nguyên tắc. Đồng thời, cần xác định đúng vai trò của sách giáo khoa và các hình thức học liệu đối với từng môn học, hoạt động giáo dục. Chỉ khi đó, giảm tải mới thực sự góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, thay vì đơn thuần là giảm bớt nội dung học tập.

Tiến sĩ SÁI CÔNG HỒNG

Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, hoàn thiện chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông theo hướng giảm tải, thiết thực đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về một cuộc đánh giá toàn diện. Trọng tâm của quá trình này không dừng lại ở việc cắt giảm cơ học dung lượng kiến thức, mà phải xác định chuẩn xác năng lực nền tảng cần đạt của người học. Mọi điều chỉnh về nội dung, phương thức tổ chức và học liệu bắt buộc phải dựa trên cơ sở khoa học cùng minh chứng thực tiễn xác đáng. Dù Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã phủ sóng ở tất cả các lớp từ lớp 1 đến lớp 12, thực tế vẫn chưa có dữ liệu theo dõi trọn vẹn một thế hệ học sinh đi hết chu kỳ 12 năm học. Trước khi áp dụng đại trà, chương trình mới chỉ được thực nghiệm ở các bài học hay tiết học đơn lẻ chứ chưa qua thử nghiệm trọn vẹn theo một vòng đời cấp học. Hạn chế này khiến những bất cập về thời lượng, độ khó, sự trùng lặp và tính liên thông kiến thức chỉ bộc lộ rõ khi triển khai thực tế trên diện rộng. Trong bối cảnh hiện nay, việc phân tách và đánh giá chương trình độc lập theo từng cấp học đã hoàn thành chu kỳ được xem là giải pháp khả thi nhất. Cách tiếp cận cuốn chiếu này cho phép đo lường chính xác mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục, đồng thời nhận diện sớm các điểm nghẽn tích lũy qua từng năm. Đây sẽ là căn cứ thực chứng then chốt giúp các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh kịp thời, bảo đảm tính khả thi lâu dài cho toàn bộ hệ thống giáo dục phổ thông.
amung