Bỏ qua điều hướng
•

Sửa Luật Đầu tư: Ưu đãi đầu tư đặc biệt phải gắn với hiệu quả thực chất

Sửa Luật Đầu tư: Ưu đãi đầu tư đặc biệt phải gắn với hiệu quả thực chất
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Các đại biểu Quốc hội đề nghị hoàn thiện cơ chế ưu đãi đầu tư đặc biệt theo hướng gắn ưu đãi với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư; có tiêu chí cụ thể để đánh giá hiệu quả, tác động lan tỏa, đồng thời tăng cường giám sát, xử lý và thu hồi ưu đãi đối với các trường hợp không thực hiện đúng cam...

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, sáng 2/11, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận tại hội trường, cho ý kiến đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.

Đề nghị xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực chất của dự án đầu tư

Góp ý về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt tại Điều 17, đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn Hưng Yên) cho rằng, việc áp dụng ưu đãi trên cơ sở kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh và nâng cao giá trị gia tăng trong nước là hướng tiếp cận phù hợp.

Tuy nhiên, theo đại biểu Nguyễn Văn Huy, dự thảo Luật chưa làm rõ mức độ thực hiện cam kết như thế nào thì được coi là đạt yêu cầu; trường hợp chỉ thực hiện một phần cam kết sẽ xử lý ra sao; việc thu hồi ưu đãi được áp dụng đối với toàn bộ hay chỉ một phần ưu đãi tương ứng với nghĩa vụ không hoàn thành.

ndo_br_nguyen-van-huy-hung-yen.jpg
Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn Hưng Yên). (Ảnh: THỦY NGUYÊN)

Dẫn thí dụ một dự án công nghệ cao được hưởng ưu đãi lớn nhưng không đạt cam kết về đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung cấp trong nước, đại biểu cho rằng, nếu chỉ căn cứ vào vốn giải ngân và sản lượng thì dự án vẫn có thể được đánh giá là thành công, dù lợi ích lan tỏa chưa đạt yêu cầu.

Do đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định đánh giá theo từng cam kết, mức độ hoàn thành và trách nhiệm xử lý tương ứng; giao Chính phủ quy định việc điều chỉnh, thu hồi ưu đãi phù hợp với mức độ vi phạm, tránh để các cam kết trở thành hình thức.

Đặc biệt, đại biểu đề nghị xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực chất của dự án đầu tư theo ngành, lĩnh vực, trong đó chú trọng giá trị gia tăng trong nước, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, chất lượng nhân lực, liên kết doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Theo đại biểu, hai dự án cùng có vốn đầu tư lớn nhưng một dự án chủ yếu gia công, nhập khẩu linh kiện, trong khi dự án khác có hoạt động nghiên cứu và phát triển, đào tạo kỹ sư, sử dụng nhà cung cấp trong nước. Nếu chỉ nhìn vào vốn đăng ký và kim ngạch xuất khẩu thì chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt về đóng góp cho nền kinh tế.

Ngoài ra, đại biểu cũng đề nghị thúc đẩy liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước; hỗ trợ nâng cao năng lực nhà cung cấp nội địa, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời xác định kết quả liên kết thành những chỉ tiêu có thể kiểm chứng.

"Thu hút đầu tư không chỉ là thu hút vốn lớn mà phải tạo ra giá trị gia tăng, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam", đại biểu Nguyễn Văn Huy nhấn mạnh, đồng thời đề nghị bảo đảm ưu đãi có điều kiện, hiệu quả có thể đo lường và lợi ích lan tỏa có thể kiểm chứng.

Không hoàn thành một phần cam kết, có phải thu hồi toàn bộ ưu đãi?

Cùng quan tâm đến cơ chế kiểm soát ưu đãi đầu tư đặc biệt, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn thành phố Hải Phòng) tán thành việc dự thảo đã làm rõ cơ chế hỗ trợ sau, trách nhiệm chứng minh điều kiện hưởng hỗ trợ, đánh giá hồ sơ và giám sát thực hiện.

Đáng chú ý, dự thảo đã chuyển từ quy định "xem xét thu hồi" sang "thu hồi" khi nhà đầu tư không đáp ứng tiêu chí, điều kiện hoặc không thực hiện đầy đủ cam kết. Tuy nhiên, theo đại biểu, để chính sách được áp dụng thống nhất, cần xác định rõ kết quả đầu ra, thời điểm kiểm chứng và trách nhiệm xác nhận đối với từng nhóm cam kết.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga phân tích, chi phí đào tạo có đầy đủ chứng từ chưa đồng nghĩa với việc người lao động đã đạt được kỹ năng cam kết. Tương tự, chi phí tư vấn cải tiến kỹ thuật đã phát sinh hợp lệ cũng chưa chứng minh doanh nghiệp trong nước đã nâng cao được năng lực sản xuất. Đối với chuyển giao công nghệ, kết quả cần được đánh giá thông qua khả năng tiếp nhận, khai thác và sử dụng của bên nhận.

ndo_br_nguyen-thi-viet-nga-hai-phong.jpg
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn thành phố Hải Phòng). (Ảnh: THỦY NGUYÊN)

Vì vậy, đại biểu đề nghị quy định cụ thể phương pháp, thời điểm kiểm chứng, chủ thể xác nhận kết quả đối với từng loại hình hỗ trợ, làm căn cứ để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ và cơ quan quản lý đánh giá thống nhất.

Đối với hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng tại điểm đ khoản 6, cần ưu tiên kiểm chứng những kết quả thuộc phạm vi cam kết như năng lực đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm định, thiết kế, quản trị. Việc có được hợp đồng cung ứng còn phụ thuộc thị trường và quyết định của bên mua, nên cần phân biệt kết quả nâng cao năng lực với kết quả thương mại tiếp theo.

Một vấn đề quan trọng khác được đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề cập là phải phân biệt điều kiện bắt buộc để hưởng chính sách với những chỉ tiêu cam kết có thể thực hiện theo từng giai đoạn, hạng mục. Theo đó, nếu nhà đầu tư không đáp ứng điều kiện bắt buộc thì phải thu hồi khoản ưu đãi, hỗ trợ đã hưởng không đúng.

Tuy nhiên, đối với những chỉ tiêu có thể tách riêng theo giai đoạn, hạng mục, cần xác định khoản hỗ trợ tương ứng phải điều chỉnh hoặc thu hồi; tránh việc không hoàn thành một chỉ tiêu dẫn đến thu hồi cả khoản hỗ trợ cho những hạng mục độc lập đã thực hiện đúng.

Đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc phân biệt này ngay tại khoản 4; giao Chính phủ quy định cách xác định cụ thể. Trường hợp kê khai gian dối phải được xử lý nghiêm. Quy định rõ vừa bảo vệ ngân sách, vừa hạn chế cách áp dụng tùy nghi, tạo sự yên tâm cho nhà đầu tư thực hiện đúng cam kết.

Bên cạnh đó, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị tăng cường kiểm soát cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương; công khai những thông tin tối thiểu về đối tượng nhận hỗ trợ, mục tiêu, kinh phí và kết quả thực hiện, đồng thời bảo vệ những thông tin thuộc diện được pháp luật bảo mật.

Theo đại biểu, hiệu quả thu hút đầu tư cần được đánh giá cả về chất lượng dự án, hiệu quả sử dụng đất, tài nguyên, ngân sách và đóng góp vào chuỗi giá trị của vùng. Cơ chế này sẽ khuyến khích địa phương cạnh tranh bằng hạ tầng, nhân lực, dịch vụ công và trách nhiệm đồng hành; hạn chế việc chạy theo số dự án, số vốn thu hút về từng địa bàn.

Làm rõ tiêu chí "tác động lan tỏa", "tạo động lực phát triển"

Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đoàn Đồng Tháp) cũng cho rằng việc quy định tiêu chí để áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt là rất cần thiết. Tuy nhiên, đề nghị Chính phủ làm rõ các khái niệm liên quan dự án, doanh nghiệp có "tác động lan tỏa", "tạo động lực phát triển".

Theo đại biểu, cần xác định cụ thể thế nào là doanh nghiệp có tác động lan tỏa, doanh nghiệp có khả năng tạo động lực phát triển, lôi cuốn các ngành, nghề và doanh nghiệp khác cùng phát triển. Đây phải là những tiêu chí rõ ràng, có thể đánh giá được, làm cơ sở xác định đúng đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt. Nếu chỉ quy định chung chung về tác động lan tỏa hoặc tạo động lực phát triển mà không có tiêu chí cụ thể thì rất khó xác định đối tượng được hưởng ưu đãi, dễ dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau trong thực tế.

ndo_br_pham-van-hoa-dong-thap.jpg
Đại biểu Phạm Văn Hòa (Đoàn Đồng Tháp). (Ảnh: THỦY NGUYÊN)

Đồng tình với ý kiến của đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, đại biểu Phạm Văn Hòa đề nghị làm rõ cơ chế xử lý đối với những trường hợp nhà đầu tư đã được hưởng ưu đãi nhưng không hoàn thành dự án hoặc chỉ thực hiện được một phần dự án. Đặc biệt, cần có chế tài đối với những doanh nghiệp chậm thực hiện nghĩa vụ, chậm hoàn trả khoản ưu đãi hoặc cố tình kéo dài thời gian, gây khó khăn cho công tác thu hồi.

Đại biểu cũng đề nghị việc đánh giá hiệu quả đầu tư không chỉ căn cứ vào lợi nhuận mà phải tính đến tác động môi trường, hiệu quả sử dụng đất, quốc phòng và an ninh, nhất là đối với các dự án tại khu vực ven biển, hải đảo.

Liên quan chính sách hỗ trợ đầu tư đặc thù của địa phương, đại biểu Phạm Văn Hòa đề nghị có tiêu chí thống nhất, đặc biệt giữa các tỉnh trong cùng một vùng, tránh tình trạng mỗi địa phương đưa ra những điều kiện ưu đãi khác nhau, dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh để thu hút nhà đầu tư.

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI

Sửa Luật Đầu tư: Ưu đãi đầu tư đặc biệt phải gắn với hiệu quả thực chất

Hoàn thiện quy định hiến, ghép tạng theo hướng nhân đạo, công bằng và minh bạch

[Video] Quốc hội tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai

VĂN TOẢN

Thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư sáng 2/11, các đại biểu Quốc hội nhấn mạnh yêu cầu gắn chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt với kết quả thực hiện cam kết thực chất của nhà đầu tư. Đại biểu Nguyễn Văn Huy thuộc Đoàn Hưng Yên cho rằng hướng tiếp cận theo kết quả chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực là phù hợp nhưng dự thảo Luật cần làm rõ tiêu chí định lượng mức độ hoàn thành. Theo phân tích của đại biểu, nếu chỉ căn cứ vào số vốn giải ngân hay kim ngạch xuất khẩu thì chưa phản ánh đầy đủ giá trị gia tăng và hiệu quả lan tỏa cho nền kinh tế. Hai dự án cùng quy mô vốn lớn có thể mang lại đóng góp hoàn toàn khác biệt nếu một bên chỉ thuần túy gia công, còn bên kia chú trọng phát triển chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa. Để tránh tình trạng các cam kết bị biến thành hình thức, đại biểu đề nghị xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả theo từng ngành, lĩnh vực, đồng thời quy định rõ chế tài xử lý tương ứng với mức độ vi phạm. Chính phủ cần sớm cụ thể hóa cơ chế điều chỉnh hoặc thu hồi một phần ưu đãi khi nhà đầu tư không hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ, qua đó bảo đảm mọi ưu đãi đều gắn liền với điều kiện kiểm chứng được.
amung