Bỏ qua điều hướng
•

Tăng vai trò thực chất của doanh nghiệp trong liên kết ba nhà

Tăng vai trò thực chất của doanh nghiệp trong liên kết ba nhà
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu phát huy vai trò của doanh nghiệp trong xác định nhu cầu, đầu tư nghiên cứu và đưa kết quả khoa học vào sản xuất. Những chuyển động trong khu vực doanh nghiệp thời gian qua đặt ra yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn để liên kết ba nhà đi vào chiều sâu....

Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu nào để kết quả nghiên cứu đáp ứng nhu cầu thị trường và làm thế nào để sự hợp tác với viện, trường vượt ra ngoài những thỏa thuận và cam kết tiếp nhận công nghệ trên hồ sơ?

Đây là những vấn đề được đặt ra tại hội thảo khoa học “Mô hình liên kết Nhà nước-Nhà trường, Viện nghiên cứu-Doanh nghiệp trong tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo”, vừa được Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp thành phố Quảng Ninh tổ chức tại Quảng Ninh.

Theo đánh giá của các chuyên gia tại hội thảo, trong khu vực doanh nghiệp, sự tham gia vào hoạt động nghiên cứu, đào tạo và phát triển công nghệ đang có những chuyển động. Các tập đoàn công nghệ lớn như Viettel, VNPT, FPT đã thiết lập quan hệ hợp tác chiến lược với trường đại học, hình thành các cơ sở nghiên cứu và học viện nội bộ, trực tiếp tham gia đào tạo và phát triển tri thức công nghệ.

Ở lĩnh vực sản xuất truyền thống, nhiều bài toán về nguyên liệu, thiết bị, chất lượng sản phẩm cũng trở thành động lực để doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, khuyến khích sáng kiến và làm chủ quy trình sản xuất.

Tổ hợp Công ty cổ phần Gốm Đất Việt, nơi hội thảo khảo sát thực tế là một trường hợp cho thấy vai trò của năng lực nghiên cứu bên trong doanh nghiệp. Trước những khó khăn do biến động thị trường, chi phí sản xuất gia tăng và sự cạnh tranh của các loại vật liệu xây dựng mới, doanh nghiệp lựa chọn cải tiến công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển sản phẩm.

Theo báo cáo của doanh nghiệp, từ giai đoạn 2012–2013, Công ty cổ phần Gốm Đất Việt đã thành lập Trung tâm nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ, đồng thời phát động phong trào sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trong toàn tổ hợp. Hàng trăm đề tài nghiên cứu, cải tiến được triển khai, góp phần tự động hóa nhiều công đoạn, giảm sự phụ thuộc vào thao tác thủ công và mở rộng khả năng phát triển sản phẩm mới.

Đáng chú ý, việc ứng dụng công nghệ nghiền khô siêu mịn từ năm 2020 đã tạo thêm khả năng đổi mới sản xuất gạch ngói đất sét nung. Cùng với đó là những nghiên cứu tận dụng đất cứng, đất tầng phủ để sản xuất ngói chất lượng cao. Các công trình của Gốm Đất Việt đạt nhiều giải thưởng quốc gia, quốc tế. Sản phẩm của doanh nghiệp được sử dụng tại nhiều công trình văn hóa, lịch sử trong nước và xuất khẩu tới 56 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Tuy nhiên, thực tiễn tại Công ty cổ phần Gốm Đất Việt cũng cho thấy, để tạo ra sức bật lớn hơn, doanh nghiệp cần có sự đồng hành của các cơ quan quản lý, trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức khoa học, công nghệ. Theo lãnh đạo Công ty, việc kết nối nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp với năng lực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ sẽ góp phần tháo gỡ khó khăn về nguồn lực, rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến nhà máy và nâng cao hiệu quả thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Đánh giá về những kết quả này, ông Lê Xuân Thảo, Phó Chủ tịch Thường trực Quỹ Hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC), nhấn mạnh khả năng đưa kết quả nghiên cứu thành công nghệ sản xuất thực tế, tạo hiệu quả kinh tế, góp phần tiết kiệm tài nguyên, năng lượng và bảo vệ môi trường.

Kinh nghiệm của doanh nghiệp gợi mở một điều kiện quan trọng để triển khai Nghị quyết 57/NQ-TW trong doanh nghiệp đó là phải có năng lực nhận diện vấn đề công nghệ và tổ chức nguồn lực giải quyết vấn đề ấy. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp tham gia hiệu quả hơn vào liên kết với viện nghiên cứu, trường đại học.

Các phân tích tại hội thảo đã chỉ ra rằng, trong chuỗi liên kết, nếu doanh nghiệp chỉ xuất hiện ở cuối chuỗi để “nhận chuyển giao” thì rủi ro thất bại rất lớn. Doanh nghiệp phải có mặt ngay từ đầu, nói cho nhà khoa học biết thị trường đang cần gì, công nghệ hiện tại gặp vấn đề gì, khách hàng đòi hỏi gì, mức chi phí nào có thể chấp nhận được.

Quan trọng hơn, doanh nghiệp phải cùng bỏ nguồn lực và cùng chịu rủi ro. Nguồn kinh phí đối ứng của doanh nghiệp vừa bổ sung nguồn lực, vừa là một phép thử về nhu cầu thực sự của thị trường.

Một trong những điểm nghẽn trong thực tiễn liên kết ba nhà cũng được hội thảo nhận diện là quan niệm còn phiến diện về vai trò của doanh nghiệp trong giáo dục đại học.

Trong nhiều năm qua, doanh nghiệp chủ yếu xem mình là nơi tiêu dùng sản phẩm đào tạo (tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp) thay vì là chủ thể tham gia đồng kiến tạo tri thức từ gốc. Hơn nữa, với cơ cấu đa phần là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiềm lực tài chính dành cho R&D (nghiên cứu và phát triển) còn mỏng khiến nhiều doanh nghiệp e ngại việc thiết lập mối quan hệ hợp tác chiến lược dài hạn với các viện, trường.

Do đó, các doanh nghiệp cần thay đổi quan niệm, không chỉ xem mình là nơi tiêu dùng nhân lực hay chỉ hỗ trợ học bổng mang tính hình thức, mà phải cùng nhà trường xây dựng và phát triển các mô hình hợp tác đem lại lợi ích chung cho cả ba bên và cộng đồng. Doanh nghiệp cần đưa ra bài toán công nghệ thực tế, cam kết nguồn lực đối ứng và xác định phương án sử dụng kết quả, như tiếp nhận công nghệ, đồng sở hữu kết quả nghiên cứu. Mức độ và hình thức tham gia cần linh hoạt theo đặc điểm từng nhiệm vụ, nhưng phải thể hiện được trách nhiệm trong quá trình thực hiện.

Mặt khác, doanh nghiệp nên chủ động thu hút sự tham gia của các giảng viên nhà trường vào công tác quản trị, tư vấn và đổi mới sáng tạo tại doanh nghiệp.

Về phía doanh nghiệp, đầu tư nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ là yêu cầu thiết thực. Việc thuê chuyên gia, tiếp nhận thiết kế, nâng cao trình độ đội ngũ kỹ thuật cần gắn với chiến lược phát triển sản phẩm và sản xuất. Doanh nghiệp quy mô lớn có thể thành lập bộ phận chuyên trách về hợp tác với trường đại học và viện nghiên cứu để khai thác hiệu quả thế mạnh học thuật phục vụ sự phát triển bứt phá của chính doanh nghiệp.

Hà Linh

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, yêu cầu phát huy vai trò thực chất của doanh nghiệp trong liên kết "ba nhà" đang trở nên cấp thiết nhằm đưa kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất. Vấn đề này vừa được thảo luận sâu sắc tại hội thảo do Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tỉnh Quảng Ninh tổ chức. Thực tiễn ghi nhận sự chuyển dịch tích cực khi các tập đoàn công nghệ lớn như Viettel, VNPT, FPT chủ động hợp tác chiến lược, thành lập viện nghiên cứu nội bộ và trực tiếp tham gia đào tạo. Tại khối sản xuất truyền thống, Tổ hợp Công ty cổ phần Gốm Đất Việt là minh chứng tiêu biểu cho năng lực tự chủ công nghệ qua việc triển khai hàng trăm đề tài cải tiến kỹ thuật từ giai đoạn 2012-2013. Tiêu biểu là công nghệ nghiền khô siêu mịn ứng dụng năm 2020 cùng các giải pháp tận dụng đất tầng phủ, giúp sản phẩm đạt nhiều giải thưởng lớn và xuất khẩu tới 56 quốc gia, vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, bài học từ Gốm Đất Việt cũng chỉ ra rằng doanh nghiệp không thể đơn độc nếu muốn tạo ra sức bật công nghệ dài hạn. Việc kết nối chặt chẽ giữa nhu cầu thực tế của doanh nghiệp với năng lực nghiên cứu của các viện, trường sẽ giúp giải quyết bài toán nguồn lực, rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm tới dây chuyền sản xuất và nâng cao hiệu quả thương mại hóa.
amung