Trong 8 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu của Thành phố đạt 65,83 tỷ USD, nhập khẩu đạt 72,69 tỷ USD. Trong không gian phát triển mới, Thành phố đang triển khai nhiều giải pháp để giảm chi phí logistics, mở rộng thị trường, nâng chất lượng hàng hóa và tăng mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Xuất nhập khẩu trở thành động lực tăng trưởng mới
Thành phố xác định, phát triển xuất nhập khẩu gắn với dịch vụ logistics và nâng cao năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo động lực tăng trưởng cho thành phố. Ông Lê Văn Danh, Phó Giám đốc Sở Công thương Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: 8 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,8%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,7%. Kim ngạch xuất khẩu đạt 65,83 tỷ USD, tăng 7,82%, trong khi nhập khẩu đạt 72,69 tỷ USD, tăng 11,86% so với cùng kỳ năm 2025.
Đáng chú ý, nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu. Máy vi tính, điện tử và linh kiện đạt 14,5 tỷ USD. Các quốc gia như: Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc,… tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của thành phố.
Tuy nhiên, cùng với cơ hội, sự gia tăng nhanh của nhập khẩu cũng đặt ra yêu cầu về khả năng tự chủ nguồn cung, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng tỷ lệ nội địa hóa. Nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất, qua đó phản ánh mức độ phụ thuộc nhất định của hoạt động sản xuất vào nguồn đầu vào bên ngoài.
Đây cũng là vấn đề liên quan trực tiếp đến vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Nếu chỉ đảm nhiệm những công đoạn có giá trị gia tăng thấp, doanh nghiệp sẽ khó nâng cao hiệu quả từ quá trình hội nhập. Do đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng kim ngạch xuất khẩu mà còn phải nâng chất lượng hàng hóa, thương hiệu, công nghệ và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Theo Tiến sĩ Bùi Bá Nghiêm, chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công thương, Thành phố Hồ Chí Minh cần vừa đáp ứng các đơn hàng trước mắt, vừa nâng cao năng lực doanh nghiệp để tham gia những khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Từ góc độ này cũng cho thấy, xuất nhập khẩu không thể tách rời logistics. Hàng hóa muốn đi xa, đi nhanh và cạnh tranh về giá phải có một hệ thống vận chuyển, kho bãi, cảng biển, đường bộ, đường thủy, đường sắt và các dịch vụ hỗ trợ được kết nối hiệu quả.
Chính sách hướng đến giảm chi phí, kết nối chuỗi
Thời gian qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung ban hành và triển khai Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, đồng thời triển khai Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics. Đây là cơ sở để thành phố cụ thể hóa các định hướng, tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu, phát triển thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Lộc Hà cho biết: Thành phố cũng định hướng phát triển xuất khẩu theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng. Trong mục tiêu đó, doanh nghiệp cần được hỗ trợ tốt hơn về thông tin thị trường, yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn của từng thị trường và điều kiện tiếp cận thị trường để gia tăng việc tiếp cận, tìm hiểu thị trường.
Cùng với đó là nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, thương hiệu và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Hoạt động xúc tiến thương mại cũng được định hướng chuyển mạnh sang phát triển thị trường bền vững, đa dạng hóa thị trường, tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu, có thương hiệu và giá trị gia tăng cao.
Ở lĩnh vực logistics, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050. Kế hoạch xác định 57 nhiệm vụ, đề án trọng tâm thuộc 9 nhóm giải pháp nhằm giảm chi phí và nâng sức cạnh tranh.
Một trong những trọng tâm là tái cấu trúc không gian logistics theo mô hình 3 lớp chức năng gồm logistics quốc tế-vùng, trung chuyển-phân phối và logistics đô thị.
Thành phố Hồ Chí Minh cũng đặt mục tiêu hoàn thiện Khu thương mại tự do Cái Mép Hạ quy mô hơn 4.174ha với 8 phân khu chức năng theo mô hình “Cảng biển-logistics-công nghiệp-đô thị dịch vụ”; hiện đại hóa cụm cảng quốc tế Cái Mép-Thị Vải thành cảng trung chuyển quốc tế tầm cỡ châu Á và thí điểm cơ chế “cảng mở” liên thông nhằm thu hút luồng hàng quá cảnh.
Một bài toán khác được thành phố đặt ra là cơ cấu vận tải. Hiện đường bộ đang gánh tới 88,7% khối lượng hàng hóa. Vì vậy, thành phố định hướng tăng năng lực vận tải đường thủy thông qua nạo vét luồng sông Soài Rạp, Lòng Tàu; tối ưu kết nối giao thông nhóm cảng biển số 4; đẩy nhanh Vành đai 3, Vành đai 4 và xúc tiến quy hoạch ga An Bình thành ga liên vận quốc tế.
Mục tiêu đến năm 2035 là đưa chi phí logistics xuống còn 11-14% GRDP, nâng tỷ trọng đóng góp của ngành logistics lên 8-10% GRDP, với tốc độ tăng trưởng bình quân 13-16%/năm và hình thành ít nhất một trung tâm logistics đạt chuẩn quốc tế.
Những điểm nghẽn cần được tháo gỡ
Dù có nhiều lợi thế, hoạt động xuất nhập khẩu và chuỗi cung ứng của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn đối mặt với không ít hạn chế. Điểm nghẽn trước hết nằm ở khả năng tạo ra giá trị của doanh nghiệp trong nước.
Theo Tiến sĩ Bùi Bá Nghiêm, để có thể trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn, doanh nghiệp quốc tế, doanh nghiệp phải đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, tiêu chuẩn, tiến độ giao hàng, khả năng truy xuất, chuyển đổi xanh và tính ổn định của nguồn cung.
Do đó, việc nâng cấp năng lực nhà cung ứng trong nước cần được xem là một mắt xích quan trọng. Từ bảo đảm chất lượng sản phẩm, làm chủ linh kiện đến từng bước tham gia đồng thiết kế, doanh nghiệp phải chuyển từ vị trí cung ứng đầu vào đơn giản sang những công đoạn tạo ra giá trị cao hơn.
Trong khi đó, sự liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất, xuất nhập khẩu, logistics, cảng biển, kho bãi và các cơ quan quản lý vẫn cần được tăng cường. Việc thiếu một cơ chế chia sẻ dữ liệu và điều phối hiệu quả có thể khiến các mắt xích trong chuỗi hoạt động chưa đồng bộ.
Để giải quyết vấn đề này, thành phố định hướng phát triển logistics theo các hành lang liên vùng, tăng cường kết nối đa phương thức, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Cùng với đầu tư hạ tầng, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cũng cần đi sâu hơn vào những nhu cầu thực tế như vốn, tiêu chuẩn, chứng nhận, đào tạo và thông tin thị trường.
Về cơ chế, những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp cần được tiếp nhận và xử lý theo hướng rõ cơ quan, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn và rõ kết quả. Những vấn đề thuộc thẩm quyền thành phố phải được tập trung giải quyết dứt điểm.
QUANG QUÝ-HÀ AN