Đó là nhận định của Sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh tại hội thảo về phát triển kinh tế nông nghiệp tuần hoàn trong lĩnh vực chăn nuôi trên địa bàn thành phố, do Sở tổ chức ngày 30/9.
Hàng triệu tấn chất thải hằng năm
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, trên địa bàn thành phố hiện có 342 cơ sở chăn nuôi quy mô trang trại lớn, 865 cơ sở chăn nuôi quy mô trang trại vừa, 1.904 cơ sở chăn nuôi quy mô trang trại nhỏ và 38.921 cơ sở chăn nuôi quy mô nông hộ, với tổng đàn gồm: hơn 1,316 triệu con heo, hơn 3.900 con trâu, hơn 93.500 con bò, hơn 39.900 con dê, cừu và hơn 21 triệu con gia cầm.
Theo phương pháp ước tính trên cơ sở tổng đàn và hệ số phát sinh chất thải bình quân, hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố phát sinh khoảng 2,72-3,25 triệu tấn phân tươi (chất thải rắn, sệt) và khoảng 1,38-2,63 triệu m³ nước thải hằng năm. Với khối lượng chất thải từ gia súc và gia cầm như trên, nếu công tác xử lý không bảo đảm và chất thải bị đưa ra ngoài môi trường sẽ ảnh hưởng nặng nề, trực tiếp đến môi trường, nước, đất, không khí và nguy cơ lây lan dịch bệnh rất lớn; đồng thời, phí phạm tài nguyên nếu chất thải trên không được xử lý và sử dụng đúng cách.
Theo ông Lê Việt Bảo, Phó Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố, số lượng cơ sở chăn nuôi quy mô nông hộ vẫn còn chiếm tỷ lệ quá lớn, và các cơ sở chăn nuôi còn phân bố manh mún, mức độ tập trung thấp. Đây là một thách thức lớn đối với công tác kiểm soát môi trường và tổ chức chăn nuôi theo hướng hiện đại, quy mô công nghiệp.
Không những vậy, phần lớn cơ sở chăn nuôi hiện vẫn xử lý chất thải theo phương pháp thủ công, chủ yếu thu gom chất thải rắn để bán hoặc sử dụng trực tiếp cho hoạt động trồng trọt. Việc xử lý mùi hôi cũng chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Các mô hình xử lý chất thải chưa hình thành được quy trình chuẩn để có thể chuyển giao, nhân rộng.
“Nếu không được thu gom, xử lý phù hợp, khối lượng hàng triệu tấn chất thải (rắn và lỏng) hằng năm nói trên có thể tác động xấu đến môi trường, đất, nước, không khí, đồng thời làm gia tăng nguy cơ phát tán mầm bệnh. Ở chiều ngược lại, nếu được phân loại, thu gom và xử lý đúng quy trình, chất thải hữu cơ từ chăn nuôi có thể trở thành nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất phân bón, năng lượng hoặc kết nối tích cực với các ngành trồng trọt, thủy sản”, ông Lê Việt Bảo cho biết thêm.
Sớm hoàn thiện chính sách hỗ trợ
Với các trang trại có quy mô lớn, việc triển khai chăn nuôi theo hướng tuần hoàn tương đối thuận lợi. Theo ông Phạm Trường Giang, Giám đốc điều hành Công ty Trách nhiệm hữu hạn Trang Linh (Trang trại Trang Linh), khi chất thải được nhìn nhận như một tài nguyên, giá trị tạo ra không dừng ở việc giảm chi phí xử lý mà còn có thể quay trở lại chuỗi sản xuất. Khi đó, hiệu quả chăn nuôi được tăng lên khá nhiều. Tại Trang Linh, chất thải được biến thành đầu vào cho sản xuất phân bón hữu cơ. Mỗi tháng công ty cung ứng ra thị trường vài trăm tấn phân bón hữu cơ đạt chuẩn quốc tế từ nguồn chất thải chăn nuôi heo.
Tuy nhiên, những cơ sở nhỏ lại đối mặt với bài toán vốn và chi phí đầu tư. Đại diện một trang trại chăn nuôi nhỏ tại thành phố, bà Phạm Thị Mỹ Kiều cho biết: Việc triển khai mô hình chăn nuôi tuần hoàn gặp khá nhiều trở ngại do chi phí cao và khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng; bởi đầu tư hệ thống xử lý chất thải, tái chế phụ phế phẩm và các hạng mục khác trong chuỗi tuần hoàn đòi hỏi nguồn lực tài chính, công nghệ, nhân lực khá cao.
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thụy Bình Phương, Khoa Chăn nuôi-Thú y, Trường đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng: Tại thành phố tồn tại đồng thời hộ chăn nuôi nhỏ và trang trại quy mô lớn, và dòng phụ phế phẩm cũng đa dạng. Vì vậy, không thể áp dụng mô hình tuần hoàn duy nhất cho tất cả cơ sở chăn nuôi. Với nông hộ nhỏ, giải pháp cần đơn giản, dễ áp dụng và chi phí thấp; còn trang trại lớn cần quy trình ổn định, có khả năng tạo ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn.
“Cần ưu tiên quản lý các chi phí và nguồn lãng phí ngay trong quá trình chăn nuôi, giảm nguồn gây ô nhiễm trước khi đầu tư các hệ thống xử lý đắt tiền. Đặc biệt, phân và nước thải cần được tách biệt sớm để giảm chi phí xử lý về sau. Phụ phế phẩm cần được phân loại ngay tại nguồn, đánh giá giá trị dinh dưỡng; từ đó xác định phương thức bảo quản, phối trộn và sử dụng phù hợp…”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thụy Bình Phương chia sẻ thêm.
Ông Hồ Trúc Thanh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố cho biết: Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 hơn 60% cơ sở chăn nuôi quy mô nông hộ và 100% cơ sở quy mô trang trại áp dụng các công nghệ và kỹ thuật xử lý và tái sử dụng chất thải; hơn 90% trang trại quy mô lớn áp dụng Quy chuẩn Việt Nam về nước thải. Thành phố cũng phấn đấu 100% cán bộ kỹ thuật được tập huấn các quy trình xử lý, tái chế chất thải, phụ phẩm trong chăn nuôi và ít nhất 70% người chăn nuôi được tập huấn về công nghệ xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp.
Để đạt các mục tiêu này, thành phố sẽ tập trung triển khai các nhóm giải pháp, gồm: Nâng cao nhận thức; hoàn thiện cơ chế, chính sách; đào tạo nguồn nhân lực; hỗ trợ kết nối doanh nghiệp và phát triển thị trường; nghiên cứu, ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; tăng cường hợp tác quốc tế; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
HOÀNG LIÊM