Các nhà nghiên cứu ở Đại học Cornell tại Ithaca, New York, lần đầu tiên chứng minh rằng: có thể che lấp một sự kiện đặc biệt trong thời gian, tạo ra những gì mong muốn tựa như "biên tập lịch sử". Đây được coi là kỳ tích vật lý lấy từ cảm hứng của Einstein, MOTI Fridman và các đồng nghiệp đã bắn một ...
Các nhà nghiên cứu ở Đại học Cornell tại Ithaca, New York, lần đầu tiên chứng minh rằng: có thể che lấp một sự kiện đặc biệt trong thời gian, tạo ra những gì mong muốn tựa như "biên tập lịch sử".
Đây được coi là kỳ tích vật lý lấy từ cảm hứng của Einstein, MOTI Fridman và các đồng nghiệp đã bắn một chùm ánh sáng xuống một sợi quang học và một cặp như vậy được gọi là "ống kính thời gian". Giữa 2 ống kính này, các nhà nghiên cứu đã tạo ra một bong bóng nhỏ, hay có thể nói là khoảng cách trong dòng chảy ánh sáng. Trong khoảnh khắc chớp nhoáng, việc này chỉ là phần nhỏ nhất của 1giây và hoạt động giống như một lỗ hổng thời gian, che giấu sự kiện trong thời gian ngắn ngủi của ánh sáng như thể nó chưa từng xảy ra.
Có thể che lấp hay thay đổi lịch sử với
“áo choàng thời gian”. (Nguồn: sciencedaily.com)
Nhóm nghiên cứu sẽ trình bày phát hiện của mình trong Hội nghị thường niên của Hội quang học (OSA), Giới hạn Quang học (FiO) năm 2011, diễn ra tại San Jose, California vào tuần tới.
Để kiểm tra hiệu suất của “áo choàng thời gian”, các nhà nghiên cứu tạo ra các xung ánh sáng trực tiếp giữa 2 ống kính. Các xung lặp đi lặp lại như đồng hồ với tốc độ 41kHz. Với chiếc “áo choàng” này, các nhà nghiên cứu có thể phát hiện một nhịp đều đặn. Bằng các thao tác trên“áo choàng thời gian” đã được đồng bộ hóa với các xung ánh sáng, cho thấy những sự kiện diễn ra đã bị xóa.
Không giống như tàng hình quang học không gian đòi hỏi việc sử dụng siêu vật liệu (tạo ra các vật liệu được thiết kế đặc biệt), “áo choàng thời gian” được thiết kế dựa trên các thuộc tính cơ bản của ánh sáng và hoạt động theo không gian và trong điều kiện thời gian vẫn còn hạn chế.
Các khu vực bị ảnh hưởng bởi “áo choàng thời gian” dài khoảng 6mm chỉ và có thể kéo dài bằng 20 phần ngàn tỷ của 1s. Chiều dài của khu vực tàng hình và thời gian nó có thể hoạt động vẫn còn hạn chế - chủ yếu là vận tốc cực của ánh sáng. Việc tàng hình một thời gian dài hơn sẽ gây ra sự bất ổn trong hệ thống
Ngoài ra, để đạt được bất kỳ tác dụng vĩ mô có thể đo lường nào thì việc tiến hành thử nghiệm quy mô giữa các hành tinh sẽ là cần thiết.
Tại Đại học Cornell ở Ithaca, New York, các nhà nghiên cứu lần đầu chứng minh khả năng che lấp một sự kiện đặc biệt trong dòng thời gian của ánh sáng. Phát hiện này gợi lên ý tưởng kỳ lạ rằng một sự kiện có thể bị làm cho biến mất, giống như lịch sử vừa được chỉnh sửa trong một khoảng thời gian cực ngắn. Công trình lấy cảm hứng từ tư tưởng của Einstein, đồng thời mở ra một cách nhìn mới về khả năng điều khiển ánh sáng trong cả không gian lẫn thời gian.
MOTI Fridman cùng các đồng nghiệp thực hiện thí nghiệm bằng cách bắn một chùm ánh sáng xuống một sợi quang học được chuẩn bị đặc biệt. Trên đường truyền của chùm sáng, nhóm nghiên cứu tạo ra một cặp cấu trúc được gọi là “ống kính thời gian”, có nhiệm vụ làm thay đổi dòng chuyển động của ánh sáng. Giữa hai ống kính này hình thành một bong bóng nhỏ, hay khoảng cách tạm thời trong dòng chảy ánh sáng, khiến một phần sự kiện không còn được quan sát như bình thường.
Khoảng trống ấy tồn tại trong thời gian ngắn đến mức chỉ chiếm một phần cực nhỏ của một giây, nhưng vẫn đủ để tạo ra hiệu ứng giống một lỗ hổng thời gian. Khi ánh sáng đi qua khu vực này, một sự kiện xảy ra trong quá trình truyền có thể bị che giấu, như thể nó chưa từng xuất hiện trong bản ghi quan sát. Vì vậy, nhóm nghiên cứu gọi ý tưởng này là “áo choàng thời gian”, một khái niệm nghe giống khoa học viễn tưởng nhưng được kiểm tra bằng thí nghiệm quang học thực tế.
Nhóm dự kiến trình bày phát hiện tại Hội nghị thường niên của Hội quang học, mang tên Giới hạn Quang học, viết tắt là FiO, năm 2011. Sự kiện diễn ra tại San Jose, California, vào tuần kế tiếp thời điểm công bố kết quả nghiên cứu. Việc đưa công trình tới hội nghị cho phép các chuyên gia đánh giá cách “áo choàng thời gian” vận hành, cũng như những giới hạn hiện tại của kỹ thuật này.
Để kiểm tra hiệu suất thiết bị, các nhà nghiên cứu tạo ra những xung ánh sáng truyền trực tiếp giữa hai ống kính thời gian. Các xung này lặp lại đều đặn như nhịp đồng hồ, với tần số 41kHz, tạo thành tín hiệu ổn định để nhóm theo dõi. Khi “áo choàng” được đồng bộ với những xung ánh sáng ấy, các thao tác phù hợp khiến một số sự kiện trong quá trình truyền bị xóa khỏi tín hiệu quan sát.
Kết quả không có nghĩa nhóm nghiên cứu đã làm biến mất một vật thể khỏi thế giới thực, cũng không phải con người có thể quay lại sửa đổi những sự kiện đã xảy ra. Hiệu ứng chỉ tác động lên cách ánh sáng mang thông tin về một sự kiện, khiến sự kiện ấy không xuất hiện trong khoảng thời gian và khu vực thí nghiệm. Nói cách khác, đây là kỹ thuật che giấu thông tin quang học trong thời gian ngắn, không phải cỗ máy du hành thời gian theo nghĩa thông thường.
“Áo choàng thời gian” cũng khác với tàng hình quang học trong không gian, vốn đòi hỏi những siêu vật liệu được thiết kế đặc biệt để bẻ hướng ánh sáng quanh vật thể. Thiết bị của Cornell dựa trên các thuộc tính cơ bản của ánh sáng, đồng thời tạo hiệu ứng trong cả không gian truyền dẫn và khoảng thời gian giới hạn. Cách tiếp cận này cho thấy ánh sáng không chỉ có thể được điều khiển theo vị trí, mà còn có thể được sắp xếp để che khuất một sự kiện theo thời điểm xuất hiện.
Tuy nhiên, phạm vi hoạt động của công nghệ vẫn rất nhỏ, với vùng bị ảnh hưởng chỉ dài khoảng 6mm và thời gian kéo dài tối đa khoảng 20 phần ngàn tỷ của một giây. Kích thước vùng tàng hình cùng thời lượng hoạt động bị giới hạn chủ yếu bởi vận tốc cực lớn của ánh sáng, khiến việc duy trì hiệu ứng lâu hơn trở nên khó khăn. Muốn tạo ra tác động vĩ mô có thể đo lường, các nhà nghiên cứu còn cần những thử nghiệm quy mô giữa các hành tinh, trong khi “áo choàng thời gian” hiện vẫn là thành tựu tinh vi của quang học thực nghiệm.