Bỏ qua điều hướng

Thay đổi tư duy để thu hẹp khoảng cách số

Thay đổi tư duy để thu hẹp khoảng cách số
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước ta thời gian qua chú trọng đặc biệt vào công tác chuyển đổi số cho đồng bào các dân tộc thiểu số, tuy nhiên ở những cộng đồng chịu nhiều hạn chế về địa lý, kinh tế, giáo dục và ngôn ngữ đang bộc lộ nguy cơ gia tăng bất bình đẳng số.  Đưa pháp luật và “Bình dâ...

Chuyển đổi số là động lực quan trọng của cải cách hành chính, phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công. Hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước ta thời gian qua chú trọng đặc biệt vào công tác chuyển đổi số cho đồng bào các dân tộc thiểu số, tuy nhiên ở những cộng đồng chịu nhiều hạn chế về địa lý, kinh tế, giáo dục và ngôn ngữ đang bộc lộ nguy cơ gia tăng bất bình đẳng số.

Yêu cầu đặt ra là cần có những giải pháp cụ thể và hiệu quả để bảo đảm mọi người dân đều có năng lực sử dụng cũng như thụ hưởng từ quá trình chuyển đổi số.

Nguy cơ bất bình đẳng số

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đặt mục tiêu phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số gắn với thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, miền. Quyết định số 1719/QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 xác định, chuyển đổi số là thành tố quan trọng trong phát triển vùng. Sau hơn 1 năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ số đang dần trở thành tất yếu đối với mọi người dân.

Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Rơ Đăm Thị Bích Ngọc, Viện Xã hội học và Tâm lý học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), chúng ta không nên đồng nhất tỷ lệ hồ sơ trực tuyến với mức độ thành thục kỹ năng số của người dân, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Một địa phương có tỷ lệ người dân tham gia các dịch vụ trực tuyến cao không có nghĩa là tất cả các nhóm dân cư đều có khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ số ngang bằng nhau. Một chỉ báo quan trọng cần được thống kê, xem xét kỹ để nhận diện khoảng cách số, là việc người dân có thật sự sử dụng được dịch vụ số hay vẫn phải nhờ cán bộ, người thân hoặc người trung gian thực hiện.

Sau một thời gian thực hiện khảo sát về mức độ tham gia của người dân vào quá trình quản trị số, Tiến sĩ Bích Ngọc nhận định, hiện tồn tại 3 rào cản đặc thù dẫn tới nguy cơ gia tăng khoảng cách số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đầu tiên là rào cản ngôn ngữ. Hiện nay, với một bộ phận không nhỏ đồng bào dân tộc thiểu số, tiếng mẹ đẻ vẫn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống, sinh hoạt hằng ngày. Trong khi đó, các nền tảng dịch vụ công, ngân hàng số và thương mại điện tử chủ yếu sử dụng tiếng Việt phổ thông với nhiều thuật ngữ hành chính và công nghệ. Đây là thách thức không nhỏ với bà con trong việc hiểu đúng thông tin trên màn hình.

Khi ngôn ngữ số không phù hợp, dễ hiểu với người sử dụng thì việc phổ cập công nghệ số cho đồng bào dân tộc thiểu số có khi chỉ đạt về số lượng (vì được trung gian hỗ trợ) mà không đạt về năng lực thực chất. Khó khăn tiếp theo nằm ở khoảng cách giữa không gian số và không gian văn hóa cộng đồng. Trong văn hóa của nhiều dân tộc thiểu số đề cao tính cộng đồng, ở đó các tri thức, kinh nghiệm, tập tục và các giá trị văn hóa được trao truyền trực tiếp giữa các thế hệ tại các địa điểm sinh hoạt chung như nhà sàn, nhà rông, nhà văn hóa... Điều này trái ngược với xu hướng cá nhân hóa người sử dụng từ các dịch vụ số.

Ngoài ra là khó khăn liên quan đến tài chính. Với nhiều hộ nghèo và cận nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chi phí để mua sắm thiết bị, kết nối internet vẫn là vấn đề phải cân nhắc, thường phải nhường chỗ cho các nhu cầu thiết yếu khác như học phí cho trẻ em, thực phẩm, giống cây… Điều này có nghĩa là, muốn bảo đảm khả năng tiếp cận số bền vững thì chuyển đổi số phải mang lại những lợi ích về kinh tế cho bà con, chứ không đơn thuần chỉ là phổ cập internet.

Hiện ở một số bản, làng dân tộc thiểu số ở địa phương đang tồn tại thực trạng nhiều người dân sở hữu điện thoại thông minh nhưng không biết tạo tài khoản, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, xác thực điện tử hay thanh toán không tiền mặt. Họ cũng gặp khó khăn trong tìm kiếm thông tin và kiểm định thông tin chính xác, thiếu kỹ năng bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng như kỹ năng nhận diện các nguy cơ lừa đảo trực tuyến.

Bà H’Loan Bdap, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Đăk Liêng, tỉnh Đắk Lắk

Bà H’Loan Bdap, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Đăk Liêng, tỉnh Đắk Lắk cho biết, hiện ở một số bản, làng dân tộc thiểu số ở địa phương đang tồn tại thực trạng nhiều người dân sở hữu điện thoại thông minh nhưng không biết tạo tài khoản, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, xác thực điện tử hay thanh toán không tiền mặt. Họ cũng gặp khó khăn trong tìm kiếm thông tin và kiểm định thông tin chính xác, thiếu kỹ năng bảo vệ dữ liệu cá nhân cũng như kỹ năng nhận diện các nguy cơ lừa đảo trực tuyến.

Biến công nghệ thành năng lực phát triển

Tiến sĩ Phạm Thị Xuân Nga, Phó Giám đốc Chi nhánh Viện Khoa học xã hội vùng Trung Bộ và Tây Nguyên (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) nhận định, ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khoảng cách số là một nguy cơ hiện hữu. Việc thu hẹp khoảng cách số là yêu cầu cấp bách, nhằm bảo đảm phát triển bền vững và không ai bị bỏ lại phía sau. Do vậy, cần có một chiến lược thực thi rõ ràng để xóa khoảng cách số.

Chuyên gia cho rằng, cần thay đổi tư duy từ việc đưa công nghệ đến người dân sang tư duy trao năng lực cho người dân sử dụng công nghệ. Bởi năng lực sử dụng công nghệ mới là yếu tố cốt lõi, bản chất để xóa khoảng cách. Mỗi bản, làng, xã cần điều tra để có số liệu cụ thể như: số lượng hộ dân chưa có internet, chưa có thiết bị, nhóm dân cư hạn chế kỹ năng số, nhóm dân cư gặp rào cản ngôn ngữ, tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ trực tuyến, thực trạng người dân sử dụng công nghệ để tăng thu nhập… Đây là căn cứ để mỗi địa phương chủ động xây dựng mạng lưới hỗ trợ cộng đồng.

Chuyên gia cho rằng, cần thay đổi tư duy từ việc đưa công nghệ đến người dân sang tư duy trao năng lực cho người dân sử dụng công nghệ. Bởi năng lực sử dụng công nghệ mới là yếu tố cốt lõi, bản chất để xóa khoảng cách.

Theo đó, mỗi buôn, làng cần có những người có kỹ năng số cơ bản để hỗ trợ người dân. Mạng lưới có thể bao gồm các cán bộ thôn, bản, đoàn viên thanh niên, giáo viên, hội viên Hội Phụ nữ, người có uy tín trong bản, lực lượng công an, quân đội hay các nhân viên bưu chính, viễn thông. Mạng lưới này cần hoạt động thường xuyên, kiên trì, không chỉ giúp bà con tham gia các dịch vụ công mà còn hướng dẫn tận tình để mỗi người dân đều có thể tự thực hiện các dịch vụ trực tuyến trong những lần tiếp theo. Với đồng bào dân tộc thiểu số, các tri thức, bao gồm tri thức về công nghệ, sẽ dễ được tiếp nhận hơn nếu được truyền đạt bởi những người mà cộng đồng tin tưởng.

Tiến sĩ Rơ Đăm Thị Bích Ngọc nhấn mạnh, muốn nâng cao năng lực số cho bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số, dữ liệu cần được bản địa hóa. Thí dụ những hướng dẫn về dịch vụ công, thanh toán số, thương mại điện tử hay phòng tránh lừa đảo cần được chuyển từ những văn bản dài sang video ngắn, hình ảnh, infographic, có tiếng nói và phụ đề bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số phù hợp. Cần phát triển các công cụ trợ lý số có khả năng hỗ trợ bà con bằng tiếng mẹ đẻ, qua đó giảm rào cản về ngôn ngữ.

Ngoài ra, cần gắn chặt kỹ năng số với sinh kế cho bà con. Mục tiêu của chuyển đổi số không chỉ dừng ở việc biết dùng điện thoại, mà là biết dùng công nghệ để cải thiện cuộc sống. Công nghệ khi đó được chuyển hóa thành năng lực phát triển, thúc đẩy môi trường học tập trong cộng đồng.

Tại một số địa phương, bà con dân tộc thiểu số đã được đào tạo công nghệ sử dụng vào việc livestream bán cà-phê, hồ tiêu, sầu riêng, quảng bá sản phẩm OCOP, đưa hàng hóa lên sàn thương mại điện tử, phát triển du lịch cộng đồng… Những mô hình này rất cần được nhân rộng.

Tại một số địa phương, bà con dân tộc thiểu số đã được đào tạo công nghệ sử dụng vào việc livestream bán cà-phê, hồ tiêu, sầu riêng, quảng bá sản phẩm OCOP, đưa hàng hóa lên sàn thương mại điện tử, phát triển du lịch cộng đồng… Những mô hình này rất cần được nhân rộng.

Tất nhiên, không thể không nhắc đến vai trò quản trị của chính quyền cấp cơ sở trong việc thu hẹp khoảng cách số. Tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khi một bộ phận người dân chưa có kỹ năng số, việc tiếp cận dịch vụ công vẫn cần duy trì mô hình kết hợp trực tuyến và hỗ trợ trực tiếp. Các thôn, buôn, làng cần có các điểm hỗ trợ dịch vụ công, tránh tình trạng chính quyền ngày càng số hóa nhưng người dân lại khó tiếp cận chính quyền.

Việc quản trị chuyển đổi số cấp cơ sở phải luôn đặt người dân vào vị trí trung tâm, không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách, mà thật sự phải là chủ thể của quá trình chuyển đổi số. Chỉ có như vậy, chúng ta mới bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau, không một nhóm người dân nào bị đứng ngoài quá trình chuyển đổi số.

VŨ QUỲNH TRANG

Chuyển đổi số đang trở thành động lực của cải cách hành chính, phát triển kinh tế xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ công, nhưng lợi ích chỉ được bảo đảm khi người dân có năng lực sử dụng thực chất. Với đồng bào dân tộc thiểu số, những hạn chế về địa lý, kinh tế, giáo dục và ngôn ngữ có thể khiến tiến trình này làm sâu thêm bất bình đẳng thay vì thu hẹp khoảng cách. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đặt mục tiêu phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số gắn với thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền; Quyết định số 1719/QĐ-TTg cũng xác định chuyển đổi số là thành tố quan trọng trong phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030. Sau hơn 1 năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, dịch vụ số ngày càng thiết yếu, song tỷ lệ hồ sơ trực tuyến cao chưa phản ánh đầy đủ mức độ thành thục của người dân. Theo Tiến sĩ Rơ Đăm Thị Bích Ngọc, Viện Xã hội học và Tâm lý học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cần làm rõ người dân tự thực hiện thủ tục hay vẫn phải nhờ cán bộ, người thân và trung gian. Đây là chỉ báo quan trọng, bởi sự hỗ trợ có thể làm đẹp số liệu tiếp cận nhưng che khuất tình trạng lệ thuộc và thiếu năng lực số độc lập. Rào cản nổi bật là ngôn ngữ khi nhiều nền tảng dịch vụ công, ngân hàng số và thương mại điện tử sử dụng tiếng Việt phổ thông cùng các thuật ngữ hành chính, công nghệ khó hiểu, trong khi tiếng mẹ đẻ vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống của một bộ phận đồng bào. Bên cạnh đó, xu hướng cá nhân hóa trên không gian số chưa dễ hòa hợp với văn hóa cộng đồng, nơi tri thức và kinh nghiệm thường được trao truyền trực tiếp tại nhà sàn, nhà rông, nhà văn hóa; vì vậy, thu hẹp khoảng cách số đòi hỏi chuyển từ tư duy đo số lượt sử dụng sang đánh giá khả năng tự tiếp cận và thụ hưởng của từng nhóm dân cư.