Bỏ qua điều hướng

Trả lương nhân viên sau khi nghỉ việc, doanh nghiệp khấu trừ thuế TNCN thế nào?

Trả lương nhân viên sau khi nghỉ việc, doanh nghiệp khấu trừ thuế TNCN thế nào?
Nguồn ảnh: VietnamNet

Người lao động đã nghỉ việc nhưng được công ty trả tiền lương của tháng trước, khoản thu nhập này khấu trừ thuế thu nhập cá nhân 10% hay theo biểu thuế lũy tiến từng phần?

Bà B.H. (Hà Nội) cho biết, người lao động ký hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng nhưng chấm dứt hợp đồng và nghỉ việc trước thời hạn. Đến ngày 5/8/2026, người lao động không còn quan hệ lao động với công ty. Tuy nhiên, công ty thực hiện chi trả tiền lương tháng 7 vào ngày này.

Bà B.H. hỏi, khi chi trả khoản tiền lương trên, công ty phải khấu trừ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) theo biểu thuế lũy tiến từng phần hay khấu trừ 10%?

Một trường hợp khác, người lao động ký hợp đồng thử việc từ ngày 1/7 đến ngày 30/8/2026, sau đó ký hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng từ ngày 1/9/2026. Công ty chi trả tiền lương vào ngày 8 của tháng kế tiếp.

Theo đó, tiền lương tháng 7 được trả vào ngày 8/8, tiền lương tháng 8 được trả vào ngày 8/9. Tại thời điểm trả lương tháng 8, người lao động đã ký hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng.

Bà B.H. muốn biết khoản tiền lương tháng 8 khi trả vào ngày 8/9 được khấu trừ thuế TNCN 10% hay theo biểu thuế lũy tiến từng phần.

Đồng thời, bà đặt câu hỏi việc xác định phương pháp khấu trừ thuế TNCN trong các trường hợp trên căn cứ vào thời điểm chi trả thu nhập hay loại hợp đồng lao động của người lao động tại thời điểm phát sinh khoản thu nhập? Khi tính thuế TNCN, công ty xác định trên tổng thu nhập thực nhận của người lao động hay trên thu nhập tính thuế sau khi xác định các khoản thu nhập chịu thuế, các khoản được miễn thuế và các khoản giảm trừ theo quy định?

W-khau tru thue tra luong.jpg
Nghỉ việc rồi mới được trả lương tháng trước, tính thuế TNCN 10% hay lũy tiến? Ảnh minh họa: Nam Khánh

Trả lời vấn đề này, Thuế TP Hà Nội dẫn quy định tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNCN.

Theo Điều 50 Nghị định 253/2026, trừ các trường hợp được quy định riêng, tổ chức, cá nhân khi chi trả thu nhập cho người nộp thuế phải khấu trừ và nộp số thuế đã khấu trừ. Việc khấu trừ được thực hiện căn cứ vào thu nhập tính thuế tháng và biểu thuế lũy tiến từng phần.

Đối với tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng, bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động, nếu mức chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp mức chi trả dưới 5 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.

Trong khi đó, đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên, tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần. Quy định này cũng áp dụng khi cá nhân ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên tại nhiều nơi.

Như vậy, tiền lương, thu nhập khác được công ty chi trả sau khi người lao động đã chấm dứt HĐLĐ, nếu mức chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên, thuộc trường hợp phải khấu trừ 10% thuế TNCN trước khi trả.

Đối với tiền lương tháng 8 được trả ngày 8/9/2026, tại thời điểm chi trả, người lao động đã ký HĐLĐ xác định thời hạn 12 tháng. Do đó, khoản thu nhập này được khấu trừ thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần.

Theo Điều 46 Nghị định 253/2026, thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công được xác định trên cơ sở tổng thu nhập chịu thuế mà người nộp thuế nhận được trong kỳ tính thuế, sau khi trừ các khoản được phép giảm trừ theo quy định.

Do đó, không lấy đơn thuần số tiền thực nhận làm căn cứ tính thuế mà phải xác định thu nhập chịu thuế, các khoản được miễn hoặc không tính vào thu nhập chịu thuế và các khoản giảm trừ theo quy định để xác định thu nhập tính thuế.

Cơ quan thuế lưu ý, trường hợp còn vướng mắc, người nộp thuế có thể liên hệ cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn.

Việc khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương trả chậm được xác định theo tình trạng hợp đồng lao động tại thời điểm doanh nghiệp chi trả thu nhập. Theo hướng dẫn của Thuế TP Hà Nội, thời điểm phát sinh công việc không phải là căn cứ duy nhất để lựa chọn giữa mức khấu trừ 10% và biểu thuế lũy tiến từng phần. Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải khấu trừ và nộp số thuế đã khấu trừ, trừ những trường hợp được quy định riêng. Với cá nhân cư trú không ký hợp đồng, ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng hoặc đã chấm dứt hợp đồng, khoản tiền lương, tiền công và thu nhập khác từ 5 triệu đồng mỗi lần trở lên phải khấu trừ 10% trước khi chi trả. Nếu khoản chi dưới 5 triệu đồng mỗi lần, đơn vị trả thu nhập được khấu trừ 10% khi cá nhân có yêu cầu. Do đó, người lao động chấm dứt hợp đồng trước ngày 5/8/2026 nhưng nhận lương tháng 7 vào chính ngày này thuộc diện đã nghỉ việc tại thời điểm nhận tiền. Nếu khoản chi trả đạt từ 5 triệu đồng trở lên, công ty phải khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10%, thay vì áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần. Cách xử lý này cho thấy thời điểm chi trả và quan hệ lao động đang tồn tại khi trả tiền có ý nghĩa quyết định. Ở trường hợp thử việc từ ngày 1/7 đến 30/8/2026, sau đó ký hợp đồng lao động 12 tháng từ ngày 1/9/2026, tiền lương tháng 8 được trả ngày 8/9 khi hợp đồng dài hạn đã có hiệu lực. Khoản thu nhập này được khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần dành cho cá nhân cư trú ký hợp đồng từ 3 tháng trở lên. Số thuế không mặc nhiên tính trên toàn bộ tiền thực nhận, mà được xác định từ thu nhập tính thuế sau khi loại trừ các khoản miễn thuế và áp dụng những khoản giảm trừ theo quy định.