Bỏ qua điều hướng
•

Theo dòng Mekong, 'lời nguyền con rồng' và câu chuyện phát triển - Kỳ cuối: Mở cửa ra biển lớn

Theo dòng Mekong, 'lời nguyền con rồng' và câu chuyện phát triển - Kỳ cuối: Mở cửa ra biển lớn
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Từ nơi cuối nguồn dòng Mekong trước nhiều thách thức đan xen cơ hội, Đồng bằng sông Cửu Long có thể mở ra không gian phát triển mới, lưng tựa đồng bằng, hướng ra biển, kết nối kinh tế biển, hàng hải, năng lượng và du lịch.


Cửa ngõ dòng Mekong - Bài 3: Mở cửa ra biển  - Ảnh 1.

Đường ra cảng Hòn Khoai (Cà Mau) dần hình thành - Ảnh: THANH HUYỀN


Ở hai bài trước, chúng ta đã theo dòng Mekong đến nơi sông gặp biển, rồi con người đang học cách sống cùng vị mặn. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, mới nhìn thấy một nửa câu chuyện.

Từ cuối nguồn Mekong thành cửa ngõ

Biển không chỉ là nơi nhận nước từ dòng sông. Biển còn là hướng mở của nền kinh tế. Đây chính là lúc cần thay đổi cách nhìn về Cà Mau và cả vùng cực Nam Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Lâu nay "nghe nói Cà Mau xa lắm, nơi cuối cùng bản đồ Việt Nam", nhưng trong kỷ nguyên đại dương, trong một thế giới mà kinh tế biển, logistics, hàng hải, năng lượng và du lịch biển đảo ngày càng có vai trò lớn, vị trí "cuối đất" có thể được nhìn theo một cách khác.

Cà Mau nằm ở nơi đặc biệt: lưng tựa không gian rộng lớn của đồng bằng, phía trước mở ra biển; một mặt hướng về Biển Đông, một mặt hướng về Vịnh Thái Lan; gần các tuyến hàng hải quốc tế và nằm trong không gian liên kết cả vùng Tây Nam Bộ.

Cửa ngõ dòng Mekong - Bài 3: Mở cửa ra biển  - Ảnh 2.

Thi công đường vượt biển ra Hòn Khoai, Cà Mau - Ảnh: THANH HUYỀN

Từ góc nhìn đó, "Cửa ngõ dòng Mekong" không chỉ là cách gọi giàu hình ảnh. Nó gợi mở một chiến lược phát triển. Không chỉ đưa nông sản từ đồng bằng ra biển, mà còn đưa đồng bằng đi vào không gian kinh tế biển. Không chỉ xuất khẩu tôm, gạo, trái cây dưới dạng hàng hóa, mà còn mở rộng sang logistics, hàng hải, năng lượng, dịch vụ cảng, kinh tế ven biển và du lịch biển đảo.

Đó là bước chuyển từ tư duy "sản xuất ở cuối nguồn" sang "kết nối ở cửa ngõ". Câu chuyện của cây lúa, con tôm, cánh rừng, dòng sông và biển cả không còn tách rời. Chúng nằm trong cùng một không gian phát triển.

Hai cửa ngõ, một không gian biển

Cửa ngõ dòng Mekong - Bài 3: Mở cửa ra biển  - Ảnh 3.

Điện gió ở Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long) - nơi gần cửa biển Định An, Trần Đề - Ảnh: CHÍ QUỐC

Nếu nhìn rộng hơn địa giới hành chính, vùng ven biển phía Nam ĐBSCL đang hình thành những điểm kết nối mới.

Ở phía Đông, cảng Trần Đề được quy hoạch như đầu mối quan trọng của hệ thống cảng biển khu vực. Quy hoạch vùng xác định hành lang kinh tế dọc sông Tiền - sông Hậu kết nối với cảng biển Trần Đề, tạo liên kết giữa đường bộ, đường thủy nội địa và hàng hải, mở hướng giao thương quốc tế cho vùng.

Ở phía Nam, cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai cùng hệ thống kết nối với Khu kinh tế Năm Căn mở ra hướng tiếp cận trực tiếp hơn với không gian hàng hải quốc tế. Quy hoạch Khu kinh tế Năm Căn đến năm 2045 xác định khu vực này là đầu mối giao thương hàng hải quốc tế thông qua cảng biển Hòn Khoai và cảng Năm Căn, đồng thời phát triển các trung tâm logistics và dịch vụ gắn với kinh tế biển.

Đáng chú ý, Hòn Khoai không chỉ được nhìn như một công trình giao thông. Đây là cảng lưỡng dụng, nơi yêu cầu phát triển kinh tế phải gắn chặt với quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Trong định hướng phát triển mới của Cà Mau, kinh tế biển được đặt trong mối quan hệ tổng thể với logistics, năng lượng, nuôi biển, chế biến thủy sản, du lịch và bảo vệ hệ sinh thái.

Nếu Trần Đề là một hướng mở quan trọng từ trung tâm đồng bằng ra Biển Đông, thì Hòn Khoai có thể trở thành một điểm mở ở cực Nam. Hai cửa ngõ ấy nếu được kết nối trong một mạng lưới logistics và kinh tế biển thống nhất sẽ không chỉ phục vụ một tỉnh hay một địa phương. Nó có thể mở thêm không gian phát triển cho cả vùng.

Đây là điều cần được nhìn nhận ở tầm vùng. Một container hàng hóa không cần biết nó được sản xuất ở Cà Mau, Sóc Trăng, Hậu Giang hay An Giang. Điều nó cần là một chuỗi logistics nhanh hơn, rẻ hơn, tin cậy hơn để đi từ vùng sản xuất đến thị trường.

Nhưng để những cửa ngõ ấy thực sự mở được cho cả vùng, cần một năng lực quản trị vượt qua tư duy cục bộ địa phương. Tinh thần Nghị quyết số 27 NQ/TW về hoàn thiện thể chế, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với phối hợp và kiểm soát hiệu quả có ý nghĩa trực tiếp ở đây. Một dự án hạ tầng lớn không chỉ được đánh giá bằng quy mô vốn hay chiều dài tuyến kết nối, mà còn bằng khả năng tạo lợi ích liên vùng, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tạo cơ hội phát triển cho cộng đồng.

Cửa ngõ dòng Mekong - Bài 3: Mở cửa ra biển  - Ảnh 4.

Quy hoạch khu lấn biển Trần Đề, trong đó có cụm cảng nước sâu trong một lần được nhà đầu tư trình bày tại UBND thành phố Cần Thơ - Ảnh: CHÍ QUỐC

Một con tàu cũng không quan tâm ranh giới hành chính. Nó quan tâm đến độ sâu luồng tàu, năng lực cảng, dịch vụ hậu cần, kết nối đường bộ đường thủy đường biển và khả năng tiếp cận thị trường. Vì vậy, bài toán lớn không phải là mỗi địa phương xây một công trình, mà là cả vùng tổ chức một mạng lưới. Đó mới là tư duy cửa ngõ.

Cũng từ đây, hàng hải không chỉ là chuyện tàu thuyền. Nó kéo theo logistics, kho bãi, bảo quản, chế biến, bảo hiểm, tài chính, dịch vụ hàng hải, sửa chữa tàu, cung ứng nhiên liệu, thương mại và nhiều ngành dịch vụ giá trị cao khác.

Một cảng biển vì thế không chỉ là nơi tàu cập bến. Cảng biển là nơi những dòng hàng hóa gặp những dòng vốn, công nghệ và thị trường. Nếu làm tốt, giá trị gia tăng không còn nằm chủ yếu trên cánh đồng hay ao nuôi, mà có thể được tạo ra ở cả chuỗi phía sau. Đó chính là cách một vùng sản xuất nông nghiệp chuyển dần sang kinh tế nông nghiệp và kinh tế biển tích hợp.

Đêm phương Nam và chân trời mới

Cửa ngõ dòng Mekong - Bài 3: Mở cửa ra biển  - Ảnh 5.

Trải nghiệm ăn ong ở rừng U Minh Hạ - Ảnh: THANH HUYỀN

Nhưng một cửa ngõ không chỉ dành cho hàng hóa. Biển còn mở ra một nền kinh tế khác: kinh tế trải nghiệm và du lịch. Hãy hình dung một hành trình bắt đầu từ Cần Thơ đi theo không gian sông nước xuống miền cực Nam; từ những miệt vườn, cánh đồng, làng nghề, vùng nuôi thủy sản đến những khu rừng ngập mặn; rồi tiếp tục ra Mũi Cà Mau, Hòn Khoai, kết nối với không gian biển đảo phía Tây và đảo ngọc Phú Quốc.

Đó không phải là những điểm đến rời rạc. Nếu được tổ chức tốt, nó có thể trở thành một hành trình sinh thái - văn hóa - nông nghiệp - sông nước - biển đảo đặc trưng của phương Nam. Một hành trình mà ở đó du khách không chỉ "đi xem". Họ được sống trong một hệ sinh thái.

Buổi sáng có thể bắt đầu từ dòng sông hay đảo ngọc Phú Quốc. Trưa về với miệt vườn, cánh đồng, ao tôm. Chiều đi qua rừng U Minh. Hoàng hôn xuống ở cửa biển, đất Mũi Cà Mau. Khi màn đêm phủ lên vùng đất cuối nguồn, câu chuyện lại mở ra bằng một vẻ đẹp khác.

Đêm phương Nam huyền thoại. Đó có thể là một sản phẩm du lịch rất riêng. Không phải thứ ánh sáng nhân tạo của những đô thị du lịch, mà là vẻ đẹp của bầu trời rộng, của sông nước, rừng đước, biển đêm, những làng quê ven biển và đời sống cư dân vùng đất cuối trời.

Từ đó, có thể kết nối những câu chuyện tưởng như rất khác nhau: đất rừng U Minh kỳ thú, rừng ngập mặn Mũi Cà Mau, văn hóa sông nước Cần Thơ, biển đảo Hòn Khoai, Phú Quốc và những cộng đồng cư dân sống dựa vào sông, biển, rừng.

Cửa ngõ dòng Mekong - Bài 3: Mở cửa ra biển  - Ảnh 6.

Du khách trải nghiệm sông nước Cần Thơ tại chợ nổi Cái Răng - Ảnh: CHÍ QUỐC

Một tour du lịch như vậy không chỉ bán một điểm đến. Nó bán một câu chuyện về phương Nam. Đó là câu chuyện có chiều sâu. Hiếm nơi nào có thể trong cùng một hành trình để du khách cảm nhận được sự chuyển tiếp từ nước ngọt sang nước lợ, từ sông ra biển, từ đồng bằng đến rừng, từ đất liền ra đảo. Đây chính là lợi thế mà kinh tế biển cần nhìn rộng hơn.

Không phải cứ có biển là có kinh tế biển. Kinh tế biển là khả năng kết nối biển với đất liền, cảng với thị trường, sản xuất với logistics, tài nguyên với công nghệ và cảnh quan với trải nghiệm. Cà Mau đã xác định định hướng phát triển thành trung tâm kinh tế biển, gắn Hòn Khoai, Năm Căn, logistics, nuôi biển, chế biến thủy sản, năng lượng và du lịch sinh thái trong một không gian phát triển tổng hợp. Quy hoạch cũng nhấn mạnh việc bảo vệ tài nguyên, môi trường, quốc phòng - an ninh và liên kết du lịch trong vùng.

Đó là một hướng đi đáng suy nghĩ. Bởi khi những cánh rừng được giữ lại, đó không chỉ là câu chuyện bảo tồn. Rừng là "hạ tầng tự nhiên" bảo vệ bờ biển. Khi hệ sinh thái rừng ngập mặn được bảo vệ, đó không chỉ là bảo vệ cảnh quan. Đó còn là bảo vệ sinh kế, nguồn lợi thủy sản và khả năng chống chịu của vùng đất.

Và kinh tế biển cũng không thể phát triển bền vững nếu thiếu một nền tảng pháp lý minh bạch, ổn định và có khả năng điều phối lợi ích. Khai thác tài nguyên phải đi cùng bảo vệ hệ sinh thái. Phát triển cảng biển phải gắn với quy hoạch không gian biển và liên kết đất liền. Du lịch phải tôn trọng cộng đồng bản địa. Đầu tư phải được khuyến khích, nhưng lợi ích công cộng, môi trường và quyền lợi chính đáng của người dân phải được bảo vệ. Đó chính là điểm gặp nhau giữa tư duy phát triển và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền trong điều kiện mới.

Khi một cánh đồng lúa được canh tác theo hướng giảm phát thải, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, có thương hiệu và truy xuất nguồn gốc thì đó không chỉ là sản xuất nông nghiệp. Đó là một phần của chuỗi giá trị xanh.

Khi một ao tôm được tổ chức theo mô hình sinh thái, gắn với chế biến sâu và thị trường cao cấp, con tôm không còn chỉ là nguyên liệu. Nó trở thành một sản phẩm của vùng đất. Khi một du khách đi từ Cần Thơ đến Cà Mau, từ đồng bằng ra biển, từ Mũi Cà Mau đến Phú Quốc, họ không chỉ tiêu tiền cho khách sạn hay vé tham quan. Họ đang trả tiền cho một hệ sinh thái kinh tế văn hóa tự nhiên được kết nối. Đây chính là hướng phát triển mà "Cửa ngõ dòng Mekong" muốn gợi mở. Mekong bắt đầu từ thượng nguồn và kết thúc ở biển.

Cửa ngõ dòng Mekong - Bài 3: Mở cửa ra biển  - Ảnh 7.

Tôm được chế biến, đóng gói xuất khẩu tại một doanh nghiệp ở Sóc Trăng (nay là thành phố Cần Thơ) - Ảnh: CHÍ QUỐC

Cuối nguồn không phải là điểm kết thúc. Nó có thể là nơi mở ra một chân trời khác. Từ hạt lúa đến hạt gạo có thương hiệu. Từ con tôm đến sản phẩm thủy sản chế biến sâu. Từ cánh rừng đến tài sản sinh thái. Từ cảng biển đến chuỗi logistics quốc tế. Từ những giếng dầu, mỏ khí, cánh quạt tạo ra dòng điện gió đến không gian năng lượng mới. Và từ biển đảo đến những hành trình du lịch khác biệt. Một vùng đất từng được gọi là "cuối trời", có thể hình thành một cực tăng trưởng mới hướng ra biển.

Nhưng mở cửa ra biển không có nghĩa là quay lưng với đồng bằng. Ngược lại, phải lưng tựa vào đồng bằng để hướng ra biển. Bởi phía sau những cảng biển là hàng triệu héc ta đất sản xuất, những vùng nuôi thủy sản, những cánh rừng, những đô thị, những dòng sông và hàng triệu người dân.

Biển chỉ trở thành động lực phát triển khi nó được kết nối với đất liền bằng hạ tầng, logistics, công nghệ và thể chế. Cảng Hòn Khoai sẽ chỉ thực sự có ý nghĩa khi kết nối được với Năm Căn, với Cà Mau, với các tỉnh trong vùng và với những tuyến hàng hóa lớn.

Trần Đề cũng vậy. Một cảng biển không tự tạo ra một nền kinh tế biển. Đó là điều cần nhìn thấy trong câu chuyện phát triển của Mekong hôm nay.

Dòng sông đưa chúng ta đến cửa ngõ. Vị mặn buộc chúng ta thay đổi cách nghĩ. Và biển mở ra một không gian phát triển mới. Câu chuyện ấy cũng cho thấy một điều: thuận thiên không có nghĩa là thu mình trước tự nhiên. Thuận thiên để thích ứng. Thích ứng để phát triển. Phát triển để mở rộng không gian sống, không gian kinh tế của con người mà không đánh đổi tương lai của hệ sinh thái.

Mekong đã đi một hành trình rất dài để đến biển. Còn chúng ta đang đứng trước một hành trình mới. Từ cửa ngõ dòng Mekong, hãy mở một hướng phát triển mới: lưng tựa đồng bằng, hướng ra biển; lấy sông - biển - rừng làm nền tảng, lấy nông nghiệp - thủy sản - hàng hải - logistics - năng lượng - du lịch làm những trụ cột liên kết, lấy con người và hệ sinh thái làm trung tâm.

Cửa ngõ dòng Mekong - Bài 3: Mở cửa ra biển  - Ảnh 8.

Du khách thích thú khi được tự tay hái dâu tại U Minh Hạ - Ảnh: THANH HUYỀN

Muốn mở được cánh cửa ấy, ĐBSCL cần thêm một hành trang quan trọng là thể chế phát triển đủ mạnh. Thể chế phải giúp các địa phương hợp tác thay vì chia nhỏ không gian kinh tế. Pháp luật phải bảo vệ tài nguyên chung và quyền lợi chính đáng của người dân.

Bộ máy quản lý phải gần dân hơn, chuyên nghiệp hơn và có trách nhiệm giải trình rõ hơn. Khi Nhà nước, thị trường và xã hội cùng vận hành trong một khuôn khổ minh bạch, ổn định và hướng đến lợi ích lâu dài, cửa ngõ dòng Mekong mới có thể trở thành một không gian phát triển thực sự.

Để rồi một ngày, khi nhắc đến Cà Mau, chúng ta không chỉ nghĩ về nơi cuối cùng của đất nước. Mà nghĩ về một nơi bắt đầu của biển, một nơi mà dòng Mekong không kết thúc. Dòng Mekong mở cửa.

Theo dòng Mekong, 'lời nguyền con rồng' và câu chuyện phát triển - Bài cuối: Mở cửa ra biển lớn - Ảnh 11.Theo dòng Mekong, 'lời nguyền con rồng' và câu chuyện phát triển - Bài 2: Nước mặn có phải kẻ thù châu thổ?

Ở cửa ngõ Mekong, nước mặn không chỉ lấn vào ruộng lúa mà đang buộc người dân thay đổi cách sản xuất, tư duy phát triển và cách ứng xử với tự nhiên.

Từ nơi cuối nguồn dòng Mekong với nhiều thách thức đan xem cơ hội, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước bước ngoặt thay đổi tư duy từ "sản xuất ở cuối nguồn" sang "kết nối ở cửa ngõ". Không dừng lại ở việc thích ứng với vị mặn hay xuất khẩu nông sản thuần túy, vùng đất cực Nam có thể mở ra không gian phát triển mới hướng ra biển lớn. Vị trí địa lý đặc biệt của Cà Mau với một mặt hướng về Biển Đông và một mặt hướng về Vịnh Thái Lan giúp nơi đây trở thành tâm điểm kết nối kinh tế biển, hàng hải, logistics và năng lượng. Chiến lược phát triển vùng biển phía Nam Đồng bằng sông Cửu Long gắn liền với các điểm kết nối hạ tầng giao thương quan trọng. Ở phía Đông, cảng Trần Đề được quy hoạch làm đầu mối quan trọng kết nối hành lang kinh tế dọc sông Tiền và sông Hậu với hệ thống hàng hải quốc tế. Trong khi đó ở phía Nam, cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai cùng hệ thống kết nối Khu kinh tế Năm Căn mở ra hướng tiếp cận trực tiếp với các tuyến hàng hải toàn cầu. Đến năm 2045, Khu kinh tế Năm Căn được định hướng phát triển thành trung tâm logistics và dịch vụ gắn liền với bảo vệ chủ quyền biển đảo. Sự gắn kết giữa nông sản, năng lượng tái tạo như điện gió tại Trà Vinh cùng hạ tầng cảng biển đang tạo nên sức bật mới cho toàn vùng Tây Nam Bộ. Việc chuyển mình hướng ra đại dương giúp Đồng bằng sông Cửu Long vươn lên trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng logistics khu vực. Bước chuyển dịch chiến lược này không chỉ tháo gỡ điểm nghẽn về hạ tầng mà còn định hình không gian phát triển bền vững cho vùng cuối nguồn Mekong.