Có lần trò chuyện với nhà thơ Trương Đăng Dung tại nhà riêng của ông ở Hà Nội, tôi hỏi: “Thưa thầy, người ta biết đến thầy với tư cách một nhà lý luận văn học có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận sâu sắc, một dịch giả uyên bác, người đã dịch Truyện Kiều của Nguyễn Du sang tiếng Hungary và Lâu đài của Franz Kafka sang tiếng Việt và là một nhà thơ của những trầm tư hiện sinh độc đáo. Không phải ngẫu nhiên mà có người gọi thầy là cây bút đa năng, một con người văn chương toàn tòng (Hoàng Đăng Khoa). Vậy, giữa ba lĩnh vực nghiên cứu, dịch thuật và sáng tác, thầy có “thiên vị” lĩnh vực nào hơn không?”. Ông mỉm cười, ánh mắt điềm tĩnh đằng sau gọng kính quen thuộc, rồi chậm rãi trả lời: “Đối với tôi, ba lĩnh vực anh vừa nhắc đến không có gì mâu thuẫn với nhau, thậm chí, chúng bổ sung tương tác lẫn nhau. Ở lĩnh vực nào, tôi cũng đều cố gắng hết mình, nhưng với lĩnh vực sáng tác thơ, tôi luôn có những khắc khoải riêng trong việc tìm kiếm ý nghĩa của tồn tại người”.
Câu trả lời ấy không chỉ nói lên những nỗ lực của Trương Đăng Dung trong nghiên cứu, dịch thuật, mà còn mở ra thế giới nghệ thuật đặc trưng trong thơ ông. Trong đời sống văn học đương đại, Trương Đăng Dung là một trường hợp rất đặc biệt. Bên cạnh lĩnh vực nghiên cứu, dịch thuật, ông còn là một thi sĩ độc hành trên hành trình suy nghiệm về thân phận con người, về sự phôi pha và hữu hạn của thời gian và những đứt gãy hiện sinh.
...Tôi đi giữa mọi người, bên những hàng cây im lặng, lòng thầm biết ơn thân cây nào rồi đây ngã xuống, xẻ mình ra ôm tôi về cát bụi./ Tôi không mang đến điều gì mới lạ, giữa quá khứ và tương lai tôi chỉ là đứa trẻ biết già. (Tự bạch).
Thơ Trương Đăng Dung không thuộc loại thơ giải trí, dễ đọc hay gặt hái cảm xúc bằng những hình ảnh lung linh trôi qua bề mặt. Đọc ông, người ta buộc phải chậm lại, phải gạt bỏ những thói quen tiếp nhận cũ để bước vào một không gian suy tưởng sâu thẳm, nơi những con chữ đều có khả năng tạo nghĩa không ngừng trong quan hệ với người đọc.
Một trong những vệt cảm xúc xuyên suốt thơ ông là nỗi ám ảnh về thời gian và kỷ niệm. Thời gian trong thơ Trương Đăng Dung không còn là khái niệm vật lý đếm bằng những con số hữu hình, mà là một thực thể vô hình nhưng hiện hữu như một tồn tại hiện sinh. Kỷ niệm đối với ông không đơn thuần là cái đã qua để hoài niệm, mà là những mảng ký ức mang giới hạn của tồn tại người.
Trong bài thơ “Những kỷ niệm tưởng tượng”, ông viết: Sáng nay em gái tôi đột ngột ra đời/ khi nhìn thấy tôi mẹ tôi cười đau khổ,/ (mẹ ơi mẹ sinh em đâu phải là tội lỗi)/ em tôi nằm mặt cau có đầy nhăn/ giữa ngày sinh của chúng ta lần thứ một ngàn... Cái nhìn “ngơ ngác” giữa kỷ niệm và chủ thể sáng tạo gợi lên cảm giác chơi vơi đến nghẹn ngào. Con người tự mình trôi đi trong dòng đời, để rồi khi giật mình quay lại, ta chợt nhận ra mình đã biến đổi, còn kỷ niệm vẫn nằm nguyên đó như những hóa thạch của quá khứ. Kỷ niệm vừa là nhân chứng, vừa là nỗi đau hiện sinh khiến con người nhận ra sự bất lực trước thời gian.
Nhưng sẽ là thiếu sót nếu chỉ thấy ở Trương Đăng Dung một ngòi bút cô đơn và trĩu nặng suy tư. Thơ ông, ở tận cùng của những tan vỡ và hoang hoải, luôn lấp lánh một khao khát nâng đỡ, một bến đỗ bình yên cho tâm hồn. Bến đỗ ấy chính là Tình yêu. Trong tập thơ Em là nơi anh tị nạn (Nhà xuất bản Văn học, 2020), Trương Đăng Dung đã tạo nên một ẩn dụ sâu sắc về tình thế của con người trong một thế giới bất an, đầy biến động.
Thế giới trong cảm nhận của ông là một không gian tràn ngập cảm thức hiện sinh. Giữa trạng thái sống ấy, “Em” không chỉ là người yêu, người bạn đời, mà đã nâng lên thành một thánh đường tinh thần, một nơi chốn cứu rỗi: Thế giới này không còn chỗ bình yên, em là nơi anh tị nạn... Hai chữ “tị nạn” nghe xa xót nhưng lại chân thật đến trần trụi. Con người hiện đại vẫn luôn tìm kiếm sự bằng an trong các giá trị tinh thần. Tình yêu trong thơ Trương Đăng Dung, vì thế, mang ý nghĩa phổ quát của đức tin về sự cứu rỗi.
Phong cách diễn đạt bình dị, thơ Trương Đăng Dung tối giản về mặt hình thức mà vẫn thể hiện được những ý tưởng lớn của trí tuệ. Ông không lạm dụng kỹ xảo chữ nghĩa hay cố tình đánh đố người đọc bằng những liên tưởng kỳ dị. Thơ ông cô đọng, kiệm lời, sử dụng thể thơ tự do với nhiều hình ảnh và ẩn dụ. Mỗi bài thơ của ông là một chỉnh thể nghệ thuật, mở ra nhiều tầng nghĩa tiếp nhận. Ông không áp đặt góc nhìn mà trao cho độc giả quyền cùng chiêm nghiệm, đồng sáng tạo.
Gặp ông ngoài đời, người ta luôn thấy ở Trương Đăng Dung sự lịch lãm, điềm tĩnh và khiêm nhường. Nhưng đằng sau vẻ ngoài ấy là một ngọn lửa sáng tạo chưa bao giờ tắt. Thơ Trương Đăng Dung mang đến một vẻ đẹp riêng trên thi đàn Việt Nam đương đại - nơi tư tưởng và cảm xúc hòa quyện làm một, nơi trí tuệ sâu sắc của nhà khoa học phục vụ cho cảm xúc mãnh liệt của người thi sĩ. Đúng như ông từng tâm sự: “Thơ là sự khám phá và giãi bày bản thể một cách tự nguyện. Tôi cần thơ như một diễn ngôn khác có khả năng thể hiện một cách phong phú hơn, đa diện hơn những cảm nhận của cái tôi về thân phận con người”.
Nhân Dân hằng tháng trân trọng giới thiệu hai bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Trương Đăng Dung
Anh không thấy thời gian trôi
Anh không thấy thời gian trôi
chỉ thấy những đám mây di chuyển
và những chiếc lá vàng không muốn lìa cây
gió rung, lá rơi còn vẫy vẫy.
Anh không thấy thời gian trôi
chỉ thấy những lá thư ngày một bạc màu
những cơn mưa rơi vào đêm vắng
dấu chân ta - năm tháng có còn đâu.
Anh không thấy thời gian trôi
chỉ thấy mùa thu vừa lạ vừa quen
những gương mặt những nụ cười mới gặp
chưa kịp thân đã thấy khác đi rồi.
Anh không thấy thời gian trôi
chỉ thấy lòng ngày một tha thiết với trời xanh,
sợi tóc rụng bàn tay nào giữ được
mỗi ban mai khắc khoải việc chưa thành.
Anh không thấy thời gian trôi
thời gian ở trong máu, không lời
ẩn mình trong khóe mắt, làn môi
trong dáng em đi nghiêng nghiêng như đang viết lên mặt đất thành lời
về kiếp người ngắn ngủi.
Tin nhắn cho em
Đêm nay trời đầy sao. Điều gì xảy ra nếu mỗi ý nghĩ của anh về em có thể nở thành một bông hoa?
*
Thế giới này không còn chỗ bình yên, em là nơi anh tị nạn.
*
Kỷ niệm cứu rỗi chúng ta, nó lưu giữ thứ ánh sáng làm cho gương mặt ta mãi mãi là gương mặt con người.
*
Anh muốn em là quá khứ để anh sống bình yên trong hiện tại; anh muốn em là hiện tại để anh hy vọng vào tương lai; anh muốn em là tương lai để ký ức anh tự do bừng sáng.
*
Đêm nay trời đầy mây. Điều gì xảy ra nếu ký ức không cất giữ cuộc đời ta an toàn nhất?
KHÚC HỒNG THIỆN